Tóm tắt: Năng lực số đã trở thành một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của nhà giáo hiện đại. Bài viết này tổng hợp các khung chuẩn năng lực số quốc tế làm cơ sở nền tảng, thực trạng năng lực số của giáo viên tại Việt Nam thông qua các công trình nghiên cứu gần đây. Từ đó, gợi mở định hướng phát triển năng lực số, đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ để thiết kế học liệu và tổ chức hoạt động dạy học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, giáo dục là một trong những lĩnh vực tiên phong ứng dụng công nghệ. Sự thay đổi về môi trường giáo dục đòi hỏi người giáo viên không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn phải làm chủ công nghệ. Năng lực số (NLS) không chỉ là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục mà còn là công cụ giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, đồng thời hướng dẫn thế hệ trẻ hòa nhập vào xã hội. Việc nghiên cứu, đối chiếu các khung năng lực chuẩn quốc tế và đánh giá thực trạng năng lực số của giáo viên hiện nay là yêu cầu cấp thiết để xây dựng lộ trình bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Theo UNESCO (2023), NLS là khả năng truy cập, quản trị, thấu hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số. Khái niệm này bao trùm các năng lực sử dụng công nghệ, máy tính, cũng như năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, NLS vừa là một năng lực chung cốt lõi của thế kỷ 21, vừa đóng vai trò là năng lực chuyên biệt (năng lực nghề nghiệp) đối với đội ngũ nhà giáo. Cụ thể đối với giáo viên, NLS trong quá trình dạy học thể hiện qua các công việc thực tế như: xây dựng cơ sở dữ liệu số; thiết kế bài giảng số; thực hiện bài giảng số trong hệ thống quản lý học tập (LMS); và kiểm tra, đánh giá bằng các phần mềm chuyên dụng.

Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều khung tiêu chuẩn được xây dựng nhằm chuẩn hóa và định hướng phát triển NLS cho giáo viên:

Khung Năng lực CNTT-TT cho giảng viên của UNESCO (ICT CFT - 2023): Khung này tổ chức 18 năng lực thành 3 mức độ phát triển. Ba mức độ này được đánh giá xuyên suốt qua 6 khía cạnh thực hành nghề nghiệp: hiểu CNTT-TT trong chính sách; chương trình giảng dạy và đánh giá; sư phạm; ứng dụng các kỹ năng số; tổ chức và quản trị; học tập nghề nghiệp giảng viên. Chuẩn ISTE cho giáo viên được chia thành 7 vai trò chính, phản ánh những năng lực cần có trong môi trường giáo dục hiện đại. Mỗi vai trò đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả dạy học thông qua việc sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, có trách nhiệm và mang tính kết nối cao.

Khung NLS cho các Nhà giáo dục của châu Âu (DigCompEdu - 2017): nhằm nắm bắt và mô tả các NLS đặc thù cho các nhà giáo dục bằng việc đề xuất 22 năng lực cơ bản được tổ chức thành 6 lĩnh vực. Khung này cũng đề xuất một mô hình tiến hóa để giúp các nhà giáo dục đánh giá và phát triển NLS của họ, đưa ra 6 giai đoạn khác của một nhà giáo dục giúp cho các nhà giáo dục nhận diện và quyết định về các bước đặc thù phải tiến hành để thúc đẩy năng lực của họ.

T5 2026 Hien 21 5 1

Kế thừa các khung chuẩn quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng năng lực số của đội ngũ giáo viên trong nước. Theo Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 27/03/2026 (chính thức có hiệu lực từ ngày 12/05/2026) về Khung năng lực số dành cho giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục (mầm non, phổ thông, và giáo dục thường xuyên) được quy định với các nội dung trọng tâm như sau: Cấu trúc Khung năng lực số bao gồm 6 miền năng lực, trong đó có 20 năng lực thành phần. Khung năng lực số này đóng vai trò là thước đo chuẩn chuyên môn mới, yêu cầu đội ngũ giáo viên chủ động tự học và thay đổi tư duy để đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia trong giáo dục. Trong đó, thành phần NLS trong thực tiễn dạy học tại Việt Nam: NLS của giáo viên được cấu thành từ năng lực thiết kế bài giảng/giáo án số (như xác định mục tiêu và nội dung bằng video, mô phỏng); năng lực sử dụng phương tiện, thiết bị số một cách hợp lý; và năng lực thực hiện quy trình dạy học số hóa trên các nền tảng LCMS/LMS.

Ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và quản lí giáo dục tại Việt Nam đang ngày càng được quan tâm, đa số các trường phổ thông đã triển khai sử dụng các nền tảng như Microsoft Teams, Google Meet, Zoom và VNPT E-learning để tổ chức lớp học trực tuyến, nhiều GV sử dụng các công cụ như Kahoot, Quizizz, Google Forms, Canva để thiết kế bài giảng và kiểm tra, đánh giá và đạt được một số thành tựu nhất định. Đồng thời, việc tích hợp công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), đang mở ra những không gian sáng tạo mới cho giáo viên. Sự xuất hiện của AI đòi hỏi năng lực số của giáo viên có sự dịch chuyển; giáo viên không chỉ cần biết sử dụng công cụ mà phải có tư duy điều khiển công nghệ và ý thức về đạo đức dữ liệu. Việc ứng dụng các phần mềm AI hỗ trợ đắc lực trong việc xây dựng kịch bản bài học và thiết kế trò chơi dạy học. Đặc biệt, đối với các môn học đòi hỏi tính trực quan, thực tiễn cao như môn Khoa học hay Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học, năng lực số giúp giáo viên thiết kế các học liệu sinh động, hỗ trợ tổ chức các hoạt động học tập bám sát yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình phổ thông mới

Để thu hẹp khoảng cách năng lực số và đáp ứng các tiêu chuẩn trong thời kỳ mới, các công trình nghiên cứu đã đề xuất nhiều hướng đi cụ thể cho đội ngũ giáo viên như: nâng cao nhận thức về vai trò của NLS; đào tạo và bồi dưỡng NLS cho giáo viên; xây dựng và hỗ trợ cộng đồng học tập về NLS; tăng cường cơ sở vật chất và học liệu số; hoàn thiện chính sách và cơ chế hỗ trợ.

Việc nâng cao năng lực số cho giáo viên phổ thông trong quá trình chuyển đổi số cần có các lộ trình đào tạo thiết thực. Lộ trình này cần hướng đến việc chuyển từ việc chỉ biết thao tác soạn giáo án PowerPoint sang việc làm chủ hệ thống quản lý học tập (LMS) và sử dụng linh hoạt các phần mềm giáo dục trực tuyến. Song song với đó, việc triển khai các biện pháp phát triển năng lực số cho đội ngũ giáo viên trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 cần được thực hiện đồng bộ và liên tục tại các cơ sở giáo dục.

Năng lực số của giáo viên là một hệ thống kỹ năng phức hợp. Sự dẫn đường của các khung chuẩn quốc tế cùng những đánh giá thực tiễn từ các nghiên cứu trong nước cho thấy, giáo viên Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ. Sự phát triển NLS của giáo viên không phải là một sự kiện nhất thời mà phải được coi là một quá trình học tập suốt đời. Các cơ sở giáo dục cần tích hợp đào tạo CNTT-TT vào cả 3 giai đoạn: trước khi phục vụ (tại các trường sư phạm), trong khi phục vụ (các cơ hội huấn luyện liên tục), và hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên. Bản thân giáo viên cũng cần chủ động sử dụng các tài nguyên số và mạng lưới cộng đồng trên Internet để tự phát triển nghề nghiệp liên tục. NLS đóng vai trò là kim chỉ nam giúp giáo viên phổ thông không chỉ thích ứng với sự thay đổi của công nghệ mà còn trở thành nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của giáo dục hiện đại. Việc liên tục bồi dưỡng NLS theo các khung chuẩn lý thuyết và thực tiễn sẽ kiến tạo một môi trường giáo dục linh hoạt, giúp học sinh chủ động giải quyết vấn đề và hướng tới xây dựng một xã hội tri thức toàn diện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT quy định Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.
  • Nguyễn Thị Giang (2023), Đề xuất một số biện pháp phát triển 'năng lực số' cho đội ngũ giáo viên trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Giáo dục, 22(19), tr. 25-28.
  • Nguyễn Long Giao (2023). Nâng cao năng lực số cho giáo viên phổ thông trong quá trình chuyển đổi số. Tạp chí Khoa học Quản lí Giáo dục, 10(số đặc biệt tháng 5), 44-49.
  • Bùi Trang Hương (2024), Đề xuất khung năng lực số của giảng viên đại học Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Giáo dục, 24(24), tr. 8-13.
  • Nguyễn Phúc Quân (2023), Phát triển khung năng lực số cho giáo viên trong kỉ nguyên trí tuệ nhân tạo, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia phát triển năng lực giáo viên trong bối cảnh chuyển đổi số, tr. 254-261.
  • Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 phê duyệt “Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và hỗ trợ hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025”, Hà Nội.
  • Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.
  • Hồ Sỹ Toản, Nguyễn Đắc Thanh (2024), Tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực số cho giáo viên tiểu học, Tạp chí Khoa học qunr lý giáo dục, số 03(43), Tr. 49-57.
  • Redecker, C. (2017), Khung năng lực số dành cho nhà giáo dục của Châu Âu (DigCompEdu), Trung tâm Nghiên cứu Chung (JRC).
  • UNESCO (2023), Khung năng lực CNTT của UNESCO dành cho giáo viên (ICT-CFT).