foto1 foto2 foto3 foto4 foto5


+84 0393.885.127
khoasp@htu.edu.vn

Khoa Sư phạm

Trường Đại học Hà Tĩnh

Giáo dục hiện đại đang dịch chuyển mạnh mẽ từ việc truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện cho học sinh. Đối với bậc Tiểu học, sự dịch chuyển này càng đòi hỏi những phương pháp tiếp cận trực quan và sinh động hơn. Trong bối cảnh đó, đưa học sinh ra hoạt động trải nghiệm ngoài trời là cách giáo viên tận dụng vạn vật xung quanh trong thiên nhiên làm đồ dùng dạy học chân thực và phong phú nhất.

Vượt ra khỏi "vùng an toàn" của sách giáo khoa

Học từ thiên nhiên là một trong những cách trực tiếp nhất để chúng ta đưa lý thuyết sách vở vào đời sống thực tế. Khi đó, những khái niệm trừu tượng sẽ lập tức trở nên rõ ràng và dễ hiểu.

Chẳng hạn với môn Toán, thay vì yêu cầu học sinh tưởng tượng và tính chu vi hình chữ nhật trên giấy, giáo viên có thể đưa các em ra sân, tự tay cầm thước dây đo chiều dài, chiều rộng của sân bóng rồi cộng lại. Hay khi học phép chia, thay vì bắt học sinh giải những bài toán đố khô khan, giáo viên chỉ cần giao cho mỗi nhóm một rổ sỏi hoặc vài viên phấn và yêu cầu các em tự tìm cách chia đều cho nhau. Việc tự tay đo đạc hay phân chia đồ vật sẽ giúp các em hình thành tư duy toán học nền tảng rất nhanh và sâu. Tương tự với môn Tự nhiên và Xã hội, khi dạy về sự bay hơi, việc giáo viên cho học sinh quan sát một vũng nước mưa cạn dần dưới trời nắng và giải thích lượng nước đó đi đâu chắc chắn sẽ thuyết phục hơn nhiều so với việc đọc định nghĩa trong sách giáo khoa. Hay khi học bài về thực vật, giáo viên có thể cho các em ra bồn hoa của trường, tự tay nhổ một vài cây cỏ dại để quan sát trực tiếp và phân biệt ngay tại chỗ đâu là rễ cọc, đâu là rễ chùm thay vì chỉ nhìn hình vẽ trên bảng.

T4 2026 SV 19 4 1

Không gian xanh luôn là môi trường lý tưởng để trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm ngoài trời

Khơi dậy trí tò mò, kỹ năng quan sát và ý thức tập thể cho trẻ

Nhà giáo dục học nổi tiếng Maria Montessori từng nói: "Đôi bàn tay là công cụ của trí thông minh". Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học khao khát được vận động, được chạm vào thế giới và được khám phá những điều mới lạ mỗi ngày. Môi trường ngoài trời là nơi lý tưởng nhất để các em được thỏa sức tò mò, giải phóng năng lượng và trực tiếp tương tác với vạn vật. Khi tự tay bới đất, nhặt nhạnh cỏ cây hay đuổi theo một con côn trùng, trí tò mò và kỹ năng quan sát của trẻ được trau dồi và trở nên nhạy bén để bắt nhịp với những thứ liên tục thay đổi trước mắt.

Thêm vào đó, đưa học sinh ra hoạt động trải nghiệm ngoài trời là cơ hội tuyệt vời để dạy về ý thức tập thể cho các em. Không gian ngoài trời là của chung. Nếu lớp mình làm ồn sẽ ảnh hưởng đến các lớp khác đang học. Nếu vứt vỏ kẹo ra bồn hoa, sân trường sẽ bẩn. Khi giáo viên rèn cho các em thói quen đi nhẹ, nói khẽ khi đi ngang dãy hành lang, hay biết tự giác nhặt rác bỏ vào đúng thùng, đó chính là những giờ học Đạo đức thiết thực nhất. Ý thức tập thể và trách nhiệm không sinh ra từ những lời nhắc nhở chung chung, mơ hồ, mà được rèn giũa từ chính những hành động nhỏ nhặt, thực tế như thế.

T4 2026 SV 19 4 2

Thử thách đối với năng lực sư phạm

Đứng từ góc độ của những giáo viên tương lai, việc đưa học sinh ra ngoài trời không phải là một buổi đi dạo nhẹ nhàng mà nó là một bài kiểm tra toàn diện về năng lực sư phạm. Quản lý một lớp học 30-40 học sinh trong không gian giới hạn đã không dễ dàng, giữ được sự tập trung và đảm bảo an toàn cho các em giữa một không gian mở còn khó hơn gấp bội. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có con mắt bao quát nhạy bén để dự báo và xử lý kịp thời những sự cố phát sinh ngoài kế hoạch. Thêm vào đó, giữa một không gian mở với vô vàn thứ gây xao nhãng, giọng nói của giáo viên phải đủ độ vang và khẩu lệnh phải thật dứt khoát thì mới thu hút được sự tập trung của học sinh. Ngoài ra, giáo viên không thể cứ bê nguyên xi cách dạy trong lớp ra ngoài sân trường. Một giáo viên linh hoạt sẽ biết cách tận dụng ngay những sự vật xung quanh để biến chúng thành đồ dùng dạy học trực quan và sinh động nhất.

T4 2026 SV 19 4 3jpg

Ta có thể thấy: “học từ thiên nhiên” không phải là điều gì quá xa vời, đó đơn giản chỉ là hành trình ta cùng trẻ sống chậm lại để cảm nhận thế giới. Mỗi trải nghiệm ngoài trời chính là một chương mới đầy sống động, bồi đắp tâm hồn và trí tuệ cho các em trên con đường khôn lớn.

Nhằm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng cũng như giải đáp những thắc mắc của sinh viên trong quá trình học tập và rèn luyện, chiều ngày 15/04/2026 Khoa Sư phạm – Trường Đại học Hà Tĩnh đã tổ chức thành công chương trình “Đối thoại giữa Trưởng khoa và Sinh viên”. Đây là hoạt động thường niên quan trọng, góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa nhà trường và sinh viên, đồng thời định hướng hành trang vững chắc cho các nhà giáo tương lai.

Đến tham dự buổi đối thoại có sự hiện diện của Thầy Lê Văn An – Trưởng khoa Sư phạm, cùng các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa, đại diện Liên chi đoàn, đội ngũ Cố vấn học tập, Trợ lý giáo vụ và đông đảo giảng viên quan tâm. Đặc biệt là sự có mặt của toàn thể sinh viên các khóa K16, K17, K18 ngành Giáo dục Tiểu học.

Mở đầu buổi đối thoại là các tiết mục văn nghệ chào mừng từ sinh viên khóa K18. Ngay sau đó, Thầy Lê Văn An đã phát biểu khai mạc, nêu rõ mục đích của buổi gặp mặt: Lắng nghe để thấu hiểu và cùng nhau xây dựng môi trường học tập tốt nhất.

T4 2026 SV 16 4 1

Thầy Lê Văn An – Trưởng khoa Sư phạm phát biểu khai mạc

Sau phần phát biểu mở đầu, chương trình đã đi sâu vào những báo cáo chuyên đề thiết thực từ các thầy cô phụ trách các mảng công tác trọng tâm:

Về công tác Đoàn: Thầy Nguyễn Văn Ái đã tổng kết tình hình rèn luyện của sinh viên, đồng thời phổ biến các tiêu chí đánh giá điểm rèn luyện mới nhất. Thầy nhấn mạnh việc tham gia các hoạt động phong trào không chỉ là điều kiện xét học bổng mà còn là môi trường để sinh viên hình thành các kỹ năng tổ chức, điều hành – những tố chất cần thiết của một người giáo viên.

T4 2026 SV 16 4 2

Thầy Nguyễn Văn Ái phát biểu về công tác Đoàn

Về công tác cố vấn học tập và quy chế: Cô Đặng Thị Thu Hiền đã trực tiếp hướng dẫn sinh viên về lộ trình đăng ký môn học và các điều kiện cần thiết cho các kỳ thi. Những giải đáp của cô đã giúp các bạn sinh viên nắm vững quy chế đào tạo tín chỉ, từ đó có kế hoạch tích lũy kiến thức một cách khoa học.

Về công tác giáo vụ: Cô Đặng Thị Thu Hiền đã cung cấp thông tin chi tiết về các chế độ chính sách dành cho sinh viên sư phạm, các gói học bổng khuyến khích và thủ tục hành chính tại khoa. Sự hướng dẫn kỹ lưỡng này giúp sinh viên đảm bảo được mọi quyền lợi chính đáng trong quá trình học tập.

Bên cạnh những thông tin từ nhà trường, chương trình còn là diễn đàn để các bạn sinh viên tiêu biểu chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quá trình học tập và rèn luyện:

Bạn Nguyễn Khánh Huyền (K17 - GDTH) và Bạn Hoàng Quang Huy (K16  - GDTH ) đã mang đến những bí quyết về phương pháp tự học và hành trình chinh phục Nghiên cứu khoa học. Những chia sẻ chân thành này đã tiếp thêm động lực cho các em khóa dưới trong việc tự tin khám phá và khẳng định bản thân.

T4 2026 SV 16 4 4

Sinh viên Nguyễn Khánh Huyền K17 – GDTH

T4 2026 SV 16 4 5

Sinh viên Hoàng Quang Huy K16 – GDTH

Cùng với đó, là bạn Bạn Phan Thị Như Quỳnh (K16 - GDTH) gây ấn tượng với nội dung về ứng dụng CNTT trong rèn luyện Nghiệp vụ sư phạm. Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài chia sẻ của Quỳnh không chỉ dừng lại ở kỹ thuật mà còn khơi gợi tư duy sáng tạo trong việc thiết kế các bài giảng tương tác hiện đại.

T4 2026 SV 16 4 6

Sinh viên Phan Thị Như Quỳnh, K16 – GDTH

Tiếp nối tinh thần cởi mở từ các bài chia sẻ, chương trình bước vào phần quan trọng nhất: Đối thoại trực tiếp giữa sinh viên và Ban chủ nhiệm Khoa. Tại đây, hội trường đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp thiết thực liên quan đến công tác thực tập sư phạm, điều kiện cơ sở vật chất và các hoạt động ngoại khóa.Với tinh thần lắng nghe và chia sẻ, Thầy Lê Văn An cùng các giảng viên phụ trách đã lắng nghe và giải đáp thỏa đáng từng vướng mắc. Sự trao đổi thẳng thắn này không chỉ giúp tháo gỡ những khó khăn hiện hữu mà còn khẳng định cam kết của Khoa trong việc luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để sinh viên phát triển toàn diện.

T4 2026 SV 16 4 7

Thầy Lê Văn An giải đáp những thắc mắc của sinh viên

Khép lại buổi gặp mặt, Thầy Lê Văn An đã dành những lời dặn dò đầy tâm huyết, khuyến khích các bạn sinh viên tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, không ngừng sáng tạo và trau dồi đạo đức nghề nghiệp. Thầy nhấn mạnh rằng, chính sự phản hồi thẳng thắn của các em ngày hôm nay sẽ là tiền đề để Khoa hoàn thiện hơn nữa công tác đào tạo và quản lý.

Những thông tin và kiến thức có được từ buổi đối thoại không chỉ đơn thuần là lời giải đáp cho những thắc mắc trước mắt, mà đã trở thành hành trang quý giá, giúp mỗi sinh viên Khoa Sư phạm thêm vững tin trên con đường rèn đức, luyện tài. Buổi gặp gỡ đã để lại dư âm tích cực, thắt chặt thêm sợi dây gắn kết giữa thầy và trò, cùng hướng tới mục tiêu đào tạo nên những thế hệ giáo viên tương lai vừa vững chuyên môn, vừa giàu tâm huyết, xứng đáng với sự kỳ vọng của gia đình, nhà trường và xã hội.

Sáng ngày 06/4/2026, tại phòng họp số 13, Bộ môn Toán đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với nội dung báo cáo luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Đình Nam. Tham dự buổi sinh hoạt có các giảng viên trong Bộ môn.

Luận án của NCS Nguyễn Đình Nam được thực hiện tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Giang Nam và Giáo sư Mikhailo Dokuchaev. Hiện nay, NCS Nguyễn Đình Nam là giảng viên Bộ môn Toán, Khoa Sư phạm và là nghiên cứu sinh khóa 2022–2026. Trong thời gian học tập và nghiên cứu, NCS Nguyễn Đình Nam đã tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc Quỹ Nafosted, đề tài cấp Bộ, đồng thời nhận được học bổng Tiến sĩ VinIF (Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup).

T4 2026 HIen 9 4 1

Luận án đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, được xây dựng dựa trên 4 bài báo khoa học, trong đó có 1 bài đăng trên tạp chí Mediterranean Journal of Mathematics (SCI, Q2), 2 bài đăng trên Communications in Algebra (SCI, Q2) và 1 bài đang gửi đăng.

Tại buổi báo cáo, các giảng viên trong Bộ môn đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực về nội dung chuyên môn, cách trình bày, thiết kế slide, đồng thời chỉ ra một số lỗi hình thức để nghiên cứu sinh tiếp tục hoàn thiện trước khi bảo vệ luận án.

Buổi sinh hoạt diễn ra trong không khí nghiêm túc, xây dựng và đạt hiệu quả chuyên môn cao. Bộ môn Toán tin tưởng rằng NCS Nguyễn Đình Nam sẽ có buổi bảo vệ luận án tiến sĩ thành công trong thời gian tới.

Hiện nay, Bộ môn Toán có 3 giảng viên đang theo học nghiên cứu sinh. Ngoài NCS Nguyễn Đình Nam, còn có NCS Nguyễn Thị Hải Anh và NCS Lê Thị Thu Hằng đang theo học chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán.

Nhằm thực hiện Kế hoạch của Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tĩnh về việc tổ chức các hoạt động trong tháng Công nhân và tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2026; đồng thời phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc chăm lo đời sống cho đoàn viên, người lao động, Công đoàn Trường Đại học Hà Tĩnh đã tổ chức chương trình “Bữa cơm Công đoàn”.

Tham dự chương trình có đồng chí Ngô Đình Vân – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh; đại diện cán bộ công đoàn Cụm Trung tâm; Ban Giám hiệu Nhà trường; Ban Chấp hành Công đoàn Trường cùng đông đảo đoàn viên, người lao động.

T4 2026 C Hang 10 4 1

Bữa cơm không chỉ là dịp để mọi người cùng nhau thưởng thức những món ăn giản dị mà còn là cơ hội để giao lưu, gắn kết, tạo nên không khí thân tình, đoàn kết trong toàn đơn vị. Qua đó góp phần xây dựng môi trường làm việc tích cực, thân thiện và nhân văn.

Bên cạnh đó, hoạt động còn có ý nghĩa động viên tinh thần, tạo thêm động lực để đoàn viên, người lao động yên tâm công tác, hăng hái thi đua lao động, giảng dạy và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đây cũng là dịp để tổ chức công đoàn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người lao động, từ đó có những hoạt động chăm lo thiết thực hơn.

T4 2026 C Hang 10 4 2

Ngoài ra, chương trình “Bữa cơm Công đoàn” còn góp phần lan tỏa giá trị đoàn kết, sẻ chia, hướng tới xây dựng tập thể vững mạnh; đồng thời hưởng ứng các hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (01/5), qua đó khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn trong giai đoạn hiện nay.

Hoạt động được tổ chức nhằm tạo điều kiện để đoàn viên, người lao động được giao lưu, chia sẻ, tăng cường sự gắn kết trong tập thể; góp phần xây dựng môi trường làm việc đoàn kết, thân thiện, nhân văn. Qua đó, động viên cán bộ, viên chức, người lao động yên tâm công tác, tích cực thi đua lao động, giảng dạy, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

T4 2026 C Hang 10 4 3

Việc tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” có ý nghĩa thiết thực trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đoàn viên, người lao động. Thông qua hoạt động này, Công đoàn Trường Đại học Hà Tĩnh thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong việc đồng hành, sẻ chia và quan tâm đến đời sống của cán bộ, viên chức, người lao động.

Bên cạnh đó, chương trình còn mang ý nghĩa thiết thực trong việc hưởng ứng các hoạt động chào mừng kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 – 01/5/2026), góp phần lan tỏa tinh thần trách nhiệm, sự quan tâm của tổ chức công đoàn đối với đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.

Ngữ pháp truyện vốn là thuật ngữ của khuynh hướng cấu trúc luận được đưa vào văn học. Hiện nay, ngữ pháp truyện là một hướng tiếp cận tâm lí học trong các công trình nghiên cứu về truyện kể. Xem xét, nghiên cứu ngữ pháp truyện giúp chúng ta có được cách tạo lập, cũng như cách giải thuyết truyện một cách có cơ sở.

Tư tưởng cơ bản trong ngữ pháp truyện của Rumelhart là: “Các truyện tuân theo một khuôn hình mềm dẻo, thế nhưng khá xác định. Khuôn hình này có thể khuôn định trong những quy tắc loại như quy tắc viết lại của ngữ pháp chuyển hoá - tạo sinh của N. Chomsky”. Một truyện có thể ngắn, có thể dài, có thể thuộc về các tiểu loại khác nhau (truyện dài, truyện ngắn, truyện dân gian…), song mỗi truyện phải có đủ các yếu tố của một truyện trọn vẹn, gồm trong một khuôn hình cụ thể. Về điều này, S. Garrad và A. Sanferd cho rằng tính chất hợp lí lắng sâu bên trong của ngữ pháp truyện là ở chỗ truyện kể giản đơn trên khắp thế giới này dường như đều tuân theo một khuôn hình có thể do một bộ hữu hạn các quy tắc lập nên. Ở bậc cao nhất, mỗi một truyện được tổ chức đúng thường gồm có các yếu tố như sau:

TRUYỆN KỂ: MÔI TRƯỜNG + ĐỀ + CỐT TRUYỆN + GIẢI PHÁP. Quy tắc này có thể đọc như sau:  Một truyện kể gồm trong (được làm thành) một môi trường, sau nó là một đề, một cốt truyện và cuối cùng là giải pháp.

Đến lượt mình, các yếu tố ở bậc cao nhất của trưyện (môi trường, đề, cốt truyện, giải pháp) lại được làm thành bởi các yếu tố  thuộc bậc thấp hơn. Cụ thể là:

- Môi trường được làm thành bởi yếu tố nhận vật, vị trí, thời gian. Mỗi truyện cụ thể tự chọn cho mình nhân vật cụ thể, vị trí cụ thể, thời gian cụ thể.

- Đề trong truyện là cái “nhân” nghĩa của toàn truyện, chi phối nội dung truyện và thường được diễn đạt dưới một hình thức nào đó ở đầu đề. Cái khó trong việc xác lập đề của truyện là tìm cho được những thành tố nghĩa mấu chốt, sẽ trở đi trở lại trong suốt truyện và có tác dụng chi phối sự xuất hiện của các thành tố nghĩa khác.

- Cốt truyện được tạo thành bởi các tình tiết và mạng lưới quan hệ giữa chúng.

- Giải pháp truyện là những cách thức giải quyết các vấn đề đặt ra trong truyện.

Nhìn chung, công dụng lớn nhất của ngữ pháp truyện là tạo cơ sở cho tính đúng về mặt tâm lí học trong cách giải thuyết truyện. Trong chừng mực đó, cấu trúc nào của ngữ pháp truyện làm thành được cái khung mạch lạc của truyện thì cấu trúc đó đúng. Người viết truyện bị câu thúc bởi những khống chế  về cấu trúc của truyện, nghĩa là phải tuân theo những yếu tố bắt buộc, hoặc là lựa chọn những yếu tố cần thiết nằm trong thế lựa chọn. Còn người đọc thì có thể sử dụng những hiểu biết về cấu trúc truyện của mình để khống chế sự giải thuyết truyện, không bỏ mất những chi tiết quan trọng của truyện cần có mặt trong khung cấu trúc của ngữ pháp truyện, đồng thời cũng không thêm những cái vượt ra ngoài cái khung cấu trúc cho phép của ngữ pháp truyện.

Vận dụng những hiểu biết về ngữ pháp truyện, chúng tôi đã tiến hành phân tích, giải thuyết truyện cười “Lợn cưới, áo mới” như sau:

Truyện kể rằng:“Có anh tính hay khoe của. Một hôm, may được cái áo mới liền đem ra mặc, rồi ra đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.

Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to:

- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không ?

Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra, bảo:

Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!”

(Trích nguyên văn)

Truyện “Lợn cưới, áo mới” là một truyện cười ngắn, nhưng nó có đủ các yếu

tố của một truyện trọn vẹn, gồm trong một khuôn hình cụ thể:

Bậc 1: Môi trường (a) + đề (b) + cốt truyện (c) + giải phảp (d).

Bậc 2a:  Môi trường của truyện được tạo thành từ: nhân vật là hai anh chàng tính hay khoe của + không gian cụ thể là trước nhà anh có áo mới, còn không gian rộng là xã hội Việt Nam + thời gian cụ thể là từ sáng tới tối, thời gian truyện xuất hiện là thời phong kiến. Quy tắc viết lại cho ta thể thức sau:

Môi trường (a) ->  Hai anh khoe của + trong xã hội Việt Nam + dưới thời phong kiến.

Truyện gồm hai nhân vật đều có tính thích khoe của là cơ sở để tạo tình huống tranh nhau khoe của trong một hoàn cảnh không phù hợp (đang tất tưởi đi tìm con lợn bị sổng chuồng). Không gian của truyện xảy ra là ở xã hội Việt Nam- một xã hội mà tính khoe của bị xem là một thói xấu, lố bịch, hợm hĩnh cần phải lên án, chế diễu. Thời gian của truyện diễn ra là dưới thời phong kiến. Đó là thời kì có sự phân biệt kẻ giàu, người nghèo. Những kẻ giàu có dưới thời phong kiến chủ yếu là bọn quan lại, cường hào. Chúng là thế lực đối lập với người lao động nghèo khổ. Và bọn chúng thường trở thành đối tượng châm biếm trong các truyện cười của tác giả dân gian.

Bậc 2b: Đề của truyện liên quan đến một việc duy nhất là việc khoe của> Mà của được khoe ở đây lại hết sức nhỏ nhặt, chẳng đáng là bao (cái áo mới và một con lợn). Của chẳng đáng là bao mà vẫn kiên trì, cố gắng tranh giành nhau khoe cho bằng được. Chính sự việc đó lại có giá trị gây cười cho truyện. Vì vậy, tên gọi của hai thứ của cải nhỏ nhặt  được đưa khoe đã được tác giả dân gian chọn làm tiêu đề  của truyện - “Lợn cưới, áo mới”. Và từ ngữ được lặp lại nhiều nhất trong truyện là từ “khoe”. Điều này có tác dụng xâu chuỗi, nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung cơ bản của truyện.

Quy tắc viết lại của bậc 2b là:

Đề (b) -> Khoe lợn cưới + khoe áo mới.

Bậc 2c:  Cốt truyện được tạo nên bởi các tình tiết sau:

-  Một anh tính hay khoe của, đứng mãi từ sáng tới chiều để khoe cái áo mới. [được diễn đạt bằng 3 câu đầu].

- Có một anh khác tính cũng hay khoe của. Trong một hoàn cảnh rối bời, tất tưởi đi tìm lợn cưới bị sổng chuồng, anh ta vẫn cố gắng để khoe cho được con lợn cưới (với dụng ý đám cưới to). [được diễn đạt bằng 2 câu tiếp theo].

- Anh có áo mới chớp ngay cơ hội để khoe cái áo mới của mình .[được diễn đạt bằng 2 câu cuối].

Trên cơ sở đó có thể viết lại bậc 2c như sau:

Cốt truyện  (c) -> Một anh chàng tính hay khoe của, cố khoe cho được cái áo mới + gặp một anh tính cũng sính khoe – khoe “lợn cưới” + anh có áo mới nắm ngay câu hỏi của anh tìm lợn để khoe cái áo mới của mình.

Bậc 2d: Giải pháp của truyện cười này là dựng lên những thế đối xứng, tương đồng, pha chút phóng đaị rất thành công.

Thế đối xứng, tương đồng được thẻ hiện như sau:

- Một anh hay khoe của gặp ngay một anh tính cũng rất thích khoe của.

- Vật mà cả hai anh chàng đem khoe đều nhỏ nhặt: lợn cưới, áo mới.

- Cả hai anh đều bất chấp hoàn cảnh để khoe cho bằng được cái mình có:

anh có áo mới cố gắng, kiên trì đợi từ sáng đến chiều để khoe cho bằng được cái áo mới; anh có lợn cũng vậy, trong hoàn cảnh tất tưởi đi tìm con lợn bị sổng chuồng mà vẫn cố nghĩ ra cho con lợn cái tên là “lợn cưới” để nhằm khoe đám cưới to.

Có thể viết lại giải pháp bậc 2d như sau:

Giải pháp (d)-> Hai nhân vật đối xứng, tương đồng ở tính hay khoe + và ở tính kiên trì, cố gắng khoe cho bằng được cái mình có + vật được khoe đối xứng, tương đồng với nhau ở sự nhỏ nhặt, chẳng đáng là bao.

Truyện không dài, nhưng bằng những thế đối xứng, tương đồng kèm theo sự phóng đại, tác giả dân gian đã tạo ra được một cuộc đua tranh về sự khoe của nực cười. Hai nhân vật được xây dựng trong thế đối xứng, tương đồng nhau, thúc đẩy nhau bộc lộ bản chất khoe khoang, hỡm hĩnh đến lố bịch. Vì thế , tiếng cười của truyện cũng bật ra từ đó.

Nói tóm lại, việc tạo lập và giải thuyết truyện theo hướng tiếp cận và phân tích ngữ pháp truyện là một hướng tiếp cận mới. Nó giúp chúng ta có thể nắm bắt và hiểu truyện một cách sâu hơn nhờ tính mạch lạc bên trong của truyện, đồng thời giúp cho chúng ta tránh được những suy diễn lan man, thiếu cơ sở khi phân tích truyện kể.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên). Ngữ văn 6, tập 1. NXB Giáo dục. H. 2002.

[2]. Diệp Quang Ban. Giao tiếp – Văn bản - Mạch lạc – Liên kết - Đoạn văn. NXB. Khoa học xã hội.

[3]. Gillian Brown – George yule. Phân tích diễn ngôn. (Trần Thuật dịch). NXB. ĐẠi học Quốc gia Hà Nội.