
Ngữ pháp truyện vốn là thuật ngữ của khuynh hướng cấu trúc luận được đưa vào văn học. Hiện nay, ngữ pháp truyện là một hướng tiếp cận tâm lí học trong các công trình nghiên cứu về truyện kể. Xem xét, nghiên cứu ngữ pháp truyện giúp chúng ta có được cách tạo lập, cũng như cách giải thuyết truyện một cách có cơ sở.
Tư tưởng cơ bản trong ngữ pháp truyện của Rumelhart là: “Các truyện tuân theo một khuôn hình mềm dẻo, thế nhưng khá xác định. Khuôn hình này có thể khuôn định trong những quy tắc loại như quy tắc viết lại của ngữ pháp chuyển hoá - tạo sinh của N. Chomsky”. Một truyện có thể ngắn, có thể dài, có thể thuộc về các tiểu loại khác nhau (truyện dài, truyện ngắn, truyện dân gian…), song mỗi truyện phải có đủ các yếu tố của một truyện trọn vẹn, gồm trong một khuôn hình cụ thể. Về điều này, S. Garrad và A. Sanferd cho rằng tính chất hợp lí lắng sâu bên trong của ngữ pháp truyện là ở chỗ truyện kể giản đơn trên khắp thế giới này dường như đều tuân theo một khuôn hình có thể do một bộ hữu hạn các quy tắc lập nên. Ở bậc cao nhất, mỗi một truyện được tổ chức đúng thường gồm có các yếu tố như sau:
TRUYỆN KỂ: MÔI TRƯỜNG + ĐỀ + CỐT TRUYỆN + GIẢI PHÁP. Quy tắc này có thể đọc như sau: Một truyện kể gồm trong (được làm thành) một môi trường, sau nó là một đề, một cốt truyện và cuối cùng là giải pháp.
Đến lượt mình, các yếu tố ở bậc cao nhất của trưyện (môi trường, đề, cốt truyện, giải pháp) lại được làm thành bởi các yếu tố thuộc bậc thấp hơn. Cụ thể là:
- Môi trường được làm thành bởi yếu tố nhận vật, vị trí, thời gian. Mỗi truyện cụ thể tự chọn cho mình nhân vật cụ thể, vị trí cụ thể, thời gian cụ thể.
- Đề trong truyện là cái “nhân” nghĩa của toàn truyện, chi phối nội dung truyện và thường được diễn đạt dưới một hình thức nào đó ở đầu đề. Cái khó trong việc xác lập đề của truyện là tìm cho được những thành tố nghĩa mấu chốt, sẽ trở đi trở lại trong suốt truyện và có tác dụng chi phối sự xuất hiện của các thành tố nghĩa khác.
- Cốt truyện được tạo thành bởi các tình tiết và mạng lưới quan hệ giữa chúng.
- Giải pháp truyện là những cách thức giải quyết các vấn đề đặt ra trong truyện.
Nhìn chung, công dụng lớn nhất của ngữ pháp truyện là tạo cơ sở cho tính đúng về mặt tâm lí học trong cách giải thuyết truyện. Trong chừng mực đó, cấu trúc nào của ngữ pháp truyện làm thành được cái khung mạch lạc của truyện thì cấu trúc đó đúng. Người viết truyện bị câu thúc bởi những khống chế về cấu trúc của truyện, nghĩa là phải tuân theo những yếu tố bắt buộc, hoặc là lựa chọn những yếu tố cần thiết nằm trong thế lựa chọn. Còn người đọc thì có thể sử dụng những hiểu biết về cấu trúc truyện của mình để khống chế sự giải thuyết truyện, không bỏ mất những chi tiết quan trọng của truyện cần có mặt trong khung cấu trúc của ngữ pháp truyện, đồng thời cũng không thêm những cái vượt ra ngoài cái khung cấu trúc cho phép của ngữ pháp truyện.
Vận dụng những hiểu biết về ngữ pháp truyện, chúng tôi đã tiến hành phân tích, giải thuyết truyện cười “Lợn cưới, áo mới” như sau:
Truyện kể rằng:“Có anh tính hay khoe của. Một hôm, may được cái áo mới liền đem ra mặc, rồi ra đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.
Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to:
- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không ?
Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra, bảo:
Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!”
(Trích nguyên văn)
Truyện “Lợn cưới, áo mới” là một truyện cười ngắn, nhưng nó có đủ các yếu
tố của một truyện trọn vẹn, gồm trong một khuôn hình cụ thể:
Bậc 1: Môi trường (a) + đề (b) + cốt truyện (c) + giải phảp (d).
Bậc 2a: Môi trường của truyện được tạo thành từ: nhân vật là hai anh chàng tính hay khoe của + không gian cụ thể là trước nhà anh có áo mới, còn không gian rộng là xã hội Việt Nam + thời gian cụ thể là từ sáng tới tối, thời gian truyện xuất hiện là thời phong kiến. Quy tắc viết lại cho ta thể thức sau:
Môi trường (a) -> Hai anh khoe của + trong xã hội Việt Nam + dưới thời phong kiến.
Truyện gồm hai nhân vật đều có tính thích khoe của là cơ sở để tạo tình huống tranh nhau khoe của trong một hoàn cảnh không phù hợp (đang tất tưởi đi tìm con lợn bị sổng chuồng). Không gian của truyện xảy ra là ở xã hội Việt Nam- một xã hội mà tính khoe của bị xem là một thói xấu, lố bịch, hợm hĩnh cần phải lên án, chế diễu. Thời gian của truyện diễn ra là dưới thời phong kiến. Đó là thời kì có sự phân biệt kẻ giàu, người nghèo. Những kẻ giàu có dưới thời phong kiến chủ yếu là bọn quan lại, cường hào. Chúng là thế lực đối lập với người lao động nghèo khổ. Và bọn chúng thường trở thành đối tượng châm biếm trong các truyện cười của tác giả dân gian.
Bậc 2b: Đề của truyện liên quan đến một việc duy nhất là việc khoe của> Mà của được khoe ở đây lại hết sức nhỏ nhặt, chẳng đáng là bao (cái áo mới và một con lợn). Của chẳng đáng là bao mà vẫn kiên trì, cố gắng tranh giành nhau khoe cho bằng được. Chính sự việc đó lại có giá trị gây cười cho truyện. Vì vậy, tên gọi của hai thứ của cải nhỏ nhặt được đưa khoe đã được tác giả dân gian chọn làm tiêu đề của truyện - “Lợn cưới, áo mới”. Và từ ngữ được lặp lại nhiều nhất trong truyện là từ “khoe”. Điều này có tác dụng xâu chuỗi, nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung cơ bản của truyện.
Quy tắc viết lại của bậc 2b là:
Đề (b) -> Khoe lợn cưới + khoe áo mới.
Bậc 2c: Cốt truyện được tạo nên bởi các tình tiết sau:
- Một anh tính hay khoe của, đứng mãi từ sáng tới chiều để khoe cái áo mới. [được diễn đạt bằng 3 câu đầu].
- Có một anh khác tính cũng hay khoe của. Trong một hoàn cảnh rối bời, tất tưởi đi tìm lợn cưới bị sổng chuồng, anh ta vẫn cố gắng để khoe cho được con lợn cưới (với dụng ý đám cưới to). [được diễn đạt bằng 2 câu tiếp theo].
- Anh có áo mới chớp ngay cơ hội để khoe cái áo mới của mình .[được diễn đạt bằng 2 câu cuối].
Trên cơ sở đó có thể viết lại bậc 2c như sau:
Cốt truyện (c) -> Một anh chàng tính hay khoe của, cố khoe cho được cái áo mới + gặp một anh tính cũng sính khoe – khoe “lợn cưới” + anh có áo mới nắm ngay câu hỏi của anh tìm lợn để khoe cái áo mới của mình.
Bậc 2d: Giải pháp của truyện cười này là dựng lên những thế đối xứng, tương đồng, pha chút phóng đaị rất thành công.
Thế đối xứng, tương đồng được thẻ hiện như sau:
- Một anh hay khoe của gặp ngay một anh tính cũng rất thích khoe của.
- Vật mà cả hai anh chàng đem khoe đều nhỏ nhặt: lợn cưới, áo mới.
- Cả hai anh đều bất chấp hoàn cảnh để khoe cho bằng được cái mình có:
anh có áo mới cố gắng, kiên trì đợi từ sáng đến chiều để khoe cho bằng được cái áo mới; anh có lợn cũng vậy, trong hoàn cảnh tất tưởi đi tìm con lợn bị sổng chuồng mà vẫn cố nghĩ ra cho con lợn cái tên là “lợn cưới” để nhằm khoe đám cưới to.
Có thể viết lại giải pháp bậc 2d như sau:
Giải pháp (d)-> Hai nhân vật đối xứng, tương đồng ở tính hay khoe + và ở tính kiên trì, cố gắng khoe cho bằng được cái mình có + vật được khoe đối xứng, tương đồng với nhau ở sự nhỏ nhặt, chẳng đáng là bao.
Truyện không dài, nhưng bằng những thế đối xứng, tương đồng kèm theo sự phóng đại, tác giả dân gian đã tạo ra được một cuộc đua tranh về sự khoe của nực cười. Hai nhân vật được xây dựng trong thế đối xứng, tương đồng nhau, thúc đẩy nhau bộc lộ bản chất khoe khoang, hỡm hĩnh đến lố bịch. Vì thế , tiếng cười của truyện cũng bật ra từ đó.
Nói tóm lại, việc tạo lập và giải thuyết truyện theo hướng tiếp cận và phân tích ngữ pháp truyện là một hướng tiếp cận mới. Nó giúp chúng ta có thể nắm bắt và hiểu truyện một cách sâu hơn nhờ tính mạch lạc bên trong của truyện, đồng thời giúp cho chúng ta tránh được những suy diễn lan man, thiếu cơ sở khi phân tích truyện kể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên). Ngữ văn 6, tập 1. NXB Giáo dục. H. 2002.
[2]. Diệp Quang Ban. Giao tiếp – Văn bản - Mạch lạc – Liên kết - Đoạn văn. NXB. Khoa học xã hội.
[3]. Gillian Brown – George yule. Phân tích diễn ngôn. (Trần Thuật dịch). NXB. ĐẠi học Quốc gia Hà Nội.

Chiều ngày 06/4/2026, Chi bộ Khoa Sư phạm, Trường Đại học Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới cho hai quần chúng ưu tú là sinh viên thuộc Chi đoàn K15 GDTH.
Tham dự buổi lễ có đồng chí Lê Văn An – Bí thư Chi bộ, cùng toàn thể đảng viên trong Chi bộ. Buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Điều lệ Đảng.

Tại buổi lễ, Chi bộ đã công bố và trao Quyết định kết nạp Đảng viên cho hai sinh viên Phan Thị Hà Linh và Hồ Thị Tuyết Nhi – những quần chúng ưu tú đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu trong học tập, rèn luyện và hoạt động phong trào.

Trong giây phút thiêng liêng, dưới cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai Đảng viên mới đã tuyên thệ trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nguyện suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Bí thư Chi bộ đã chúc mừng hai Đảng viên mới, đồng thời giao nhiệm vụ tiếp tục giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của người Đảng viên, góp phần xây dựng Chi bộ Khoa Sư phạm ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Lễ kết nạp Đảng viên mới là dấu mốc quan trọng trong quá trình rèn luyện, trưởng thành của các sinh viên, đồng thời góp phần bổ sung lực lượng đảng viên trẻ, có tri thức, nhiệt huyết cho Chi bộ và Nhà trường. Qua đó, tiếp tục lan tỏa tinh thần phấn đấu trong đoàn viên, sinh viên toàn Khoa.

Có một khoảng cách khá xa giữa những dòng chữ ngay ngắn trên giáo án và những gì diễn ra trong một tiết học thực tế. Với bậc tiểu học, nơi mà sự tò mò của trẻ luôn vận động không ngừng, giáo viên chúng ta thường đứng trước một bài toán khó: Làm sao để tri thức không chỉ dừng lại ở việc "nghe và chép"? Câu trả lời đang dần hiện rõ thông qua STEM – phương thức giáo dục không chỉ mang đến kiến thức, mà còn mang đến cho học sinh một "tư duy kiến tạo". Hành trình đưa STEM vào lớp học, vì thế, chính là hành trình chúng ta cùng trẻ bước ra khỏi những trang lý thuyết để chạm tay vào hơi thở của đời sống.
Ở lứa tuổi tiểu học, mỗi đứa trẻ vốn dĩ đã là một "nhà khoa học tự nhiên" với hàng ngàn câu hỏi "Tại sao?". Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, phương pháp STEM nổi lên như một nhịp cầu hoàn hảo để nối liền những lý thuyết trừu tượng với thế giới thực tại sinh động. Tuy nhiên, hành trình đưa STEM từ những ý tưởng nằm trên trang giấy đến thực tế lớp học không chỉ đơn thuần là việc thay đổi nội dung giảng dạy, mà là một cuộc cách mạng về tư duy của cả người dạy lẫn người học.

Trước hết, chúng ta cần hiểu đúng về bản chất của STEM. Đây không phải là một môn học mới, mà là một mô hình giáo dục tích hợp bốn lĩnh vực: Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học). Thay vì dạy bốn môn học như những mảnh ghép rời rạc, STEM gắn kết chúng thành một mô hình học tập thống nhất dựa trên các ứng dụng thực tế. Ở bậc tiểu học, STEM không yêu cầu những thiết bị phòng lab hiện đại hay thuật toán phức tạp; nó đơn giản là việc dùng kiến thức Khoa học và Toán học, thông qua kỹ năng Kỹ thuật và sự hỗ trợ của Công nghệ để giải quyết một vấn đề cụ thể. Đó là cách giáo dục giúp trẻ hiểu rằng tri thức là một dòng chảy liên tục và hữu dụng.
Mọi dự án STEM thành công đều bắt đầu từ một ý tưởng gắn liền với thực tế của cuộc sống. Thay vì tìm kiếm những đề tài xa vời, giáo viên có thể bắt đầu bằng việc quan sát những vấn đề nhỏ nhất trong khuôn viên trường học hay tại địa phương. Một ý tưởng STEM sâu sắc đôi khi chỉ xuất phát từ mong muốn giúp các em hiểu về cơ chế lọc nước sạch, cách xây dựng một chiếc cầu vững chãi bằng que kem, hay thiết kế một hệ thống tưới cây tự động từ chai nhựa tái chế. Chính sự gần gũi này đã giúp xóa tan rào cản rằng "STEM là điều gì đó cao siêu", từ đó khơi dậy niềm tin ở học sinh rằng các em hoàn toàn có khả năng dùng kiến thức để cải thiện thế giới xung quanh mình.

Để biến ý tưởng thành sản phẩm, giáo viên cần khéo léo dẫn dắt học sinh đi qua các bước từ đơn giản đến phức tạp. Các em sẽ bắt đầu bằng việc quan sát vấn đề, tìm hiểu kiến thức rồi mới lập kế hoạch và bắt tay vào chế tạo. Khác với những tiết học lý thuyết, STEM cho phép học sinh thử sai. Nếu mô hình chưa chạy hay đèn chưa sáng, các em không cần lo lắng vì đó là cơ hội để cả nhóm cùng ngồi lại, tìm nguyên nhân và thử cách làm mới. Quá trình cùng nhau 'thử và sai' này chính là lúc các em học được cách giải quyết vấn đề thực tế và thắt chặt tình bạn thông qua việc làm việc nhóm.
Sức hấp dẫn của STEM thực tế nằm ở cảm giác hạnh phúc khi học sinh được chạm tay vào thành quả sáng tạo của chính mình. Những con số trên bảng đen giờ đây trở thành kích thước của một ngôi nhà mô hình; những nguyên lý vật lý khô khan trở thành lực đẩy giúp chiếc xe đồ chơi chuyển động. Quan trọng hơn cả sản phẩm cuối cùng, giá trị thực sự mà STEM mang lại chính là sự thay đổi trong thái độ học tập: học sinh trở nên chủ động hơn, tự tin hơn và không còn sợ hãi trước những thử thách mới. STEM đã biến lớp học thành một "xưởng chế tạo nhí", nơi tri thức không chỉ để ghi nhớ mà là để vận hành và tạo ra giá trị hữu hình.

Hành trình đưa STEM từ ý tưởng đến thực tế tại bậc tiểu học tuy còn nhiều thách thức về nguồn lực và thời gian, nhưng những giá trị mà nó mang lại cho thế hệ tương lai là không thể phủ nhận. Đó không chỉ là câu chuyện của những con số hay kỹ thuật, mà là hành trình nuôi dưỡng lòng trắc ẩn, sự kiên trì và tư duy đổi mới cho trẻ ngay từ những năm tháng đầu đời. Khi mỗi tiết học trở thành một cuộc phiêu lưu trí tuệ, chúng ta không chỉ đang dạy các em học mà còn đang chuẩn bị cho các em tâm thế của những người làm chủ tương lai, biết biến những ý tưởng táo bạo nhất thành hiện thực hữu ích cho cộng đồng.

Có những khoảng thời gian, khi đi qua rồi ta mới nhận ra mình đã yêu nó nhiều đến thế nào. Bốn tuần tại Trường Tiểu học Tân Giang đối với chúng tôi không chỉ là một đợt thực tập, mà còn là một miền ký ức dịu dàng, nơi những cảm xúc đầu tiên với nghề giáo được nhẹ nhàng đánh thức.
Tháng Ba đến, mang theo cái nắng, cái gió nhẹ của mùa hè, cũng là lúc chúng tôi bắt đầu hành trình của mình. Ngày đầu tiên bước chân vào trường, trong lòng mỗi chúng tôi đều có một chút bỡ ngỡ, một chút lo lắng, xen lẫn cả sự háo hức khó gọi tên. Nhưng rồi, tất cả những cảm xúc ấy dần lắng lại khi chúng tôi nhận được sự đón tiếp ấm áp từ Ban Giám hiệu nhà trường. Không phải là những điều lớn lao, mà chính là sự gần gũi, chân thành trong từng lời nói, sự tin tưởng, kì vọng của thầy cô đã tiếp thêm động lực để chúng tôi tự tin hơn khi bắt đầu những ngày thực tập đầu tiên.

Những ngày sau đó, chúng tôi được đồng hành cùng các cô giáo hướng dẫn tại lớp, những người không chỉ giỏi chuyên môn mà còn tràn đầy tâm huyết với nghề. Các cô đã tận tình hướng dẫn chúng tôi từ những điều nhỏ nhất: cách chuẩn bị một bài giảng, cách đứng lớp, cách lắng nghe và thấu hiểu học sinh. Những hôm gần đến tiết dạy đánh giá, chúng tôi không khỏi lo lắng, bồi hồi. Nhưng điều khiến chúng tôi nhớ mãi là các cô còn lo cho chúng tôi nhiều hơn thế. Sau những tiết dạy trên lớp, tranh thủ giờ trực trưa khi học sinh đã yên giấc, các cô vẫn lặng lẽ, tỉ mỉ đọc từng trang giáo án, góp ý từng chi tiết nhỏ cho chúng tôi. Không ồn ào, không vội vàng, chỉ là sự tận tâm âm thầm mà bền bỉ. Đến khi những tiết dạy khép lại, nhìn ánh mắt các cô ánh lên niềm vui và sự hạnh phúc, chúng tôi bỗng thấy lòng mình dịu lại. Niềm vui ấy không chỉ là khi một bài giảng được hoàn thành, mà còn là cảm giác được tin tưởng, được yêu thương một cách rất chân thành.
Ngoài công tác giảng dạy trên lớp, có lẽ điều khiến chúng tôi ấn tượng và thích thú nhất trong thời gian thực tập tại Trường Tiểu học Tân Giang chính là việc được tham gia tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh. Nhà trường không chỉ chú trọng đến việc dạy học mà còn đặc biệt quan tâm đến việc tạo ra một môi trường học tập năng động, giàu trải nghiệm cho các em. Ngay từ những ngày đầu, chúng tôi đã được tham gia hỗ trợ tổ chức hoạt động trải nghiệm nhân dịp ngày 8/3. Mỗi tuần trôi qua đều gắn liền với những hoạt động ý nghĩa như sinh hoạt kể chuyện dưới cờ, các tiết mục văn nghệ hay những hoạt động lớn như “Ngày hội Thiếu nhi vui khỏe”,…. Mỗi hoạt động đều mang một màu sắc riêng, nhưng có một điểm chung đó là sự hào hứng, hồn nhiên của các em học sinh và sự chuẩn bị chu đáo, chỉn chu từ phía nhà trường. Đặc biệt, chương trình để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng nhất chính là Ngày hội Giáo dục STEM và đọc sách. Đây là một trong những hoạt động lớn nhất của nhà trường, được tổ chức một cách quy mô và bài bản. Ở đây, chúng tôi được tận mắt chứng kiến sự sáng tạo, sự tự tin và niềm say mê học tập của các em học sinh. Những ánh mắt háo hức, những sản phẩm nhỏ xinh nhưng đầy sáng tạo đã khiến chúng tôi nhận ra rằng, việc học có thể trở nên thật sinh động và ý nghĩa khi được nuôi dưỡng đúng cách.

Và giữa tất cả những điều đáng nhớ ấy, hình ảnh các em học sinh Trường Tiểu học Tân Giang vẫn là điều đọng lại sâu sắc nhất trong chúng tôi. Các em ngoan ngoãn, lễ phép và rất có ý thức nề nếp. Mỗi tiết học trôi qua là những ánh mắt chăm chú, những cánh tay nhỏ nhắn xung phong phát biểu, là những tiếng “thưa cô”, “thưa thầy” trìu mến. Những khoảnh khắc rất đỗi giản dị như một nụ cười, một lời chào, hay chỉ là ánh mắt các em nhìn theo khi chúng tôi rời lớp cũng đủ khiến lòng chúng tôi thắt lại. Chính các em đã làm cho những tiết dạy của chúng tôi không còn là nhiệm vụ, mà trở thành niềm vui, thành một điều gì đó thật thiêng liêng.
Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, như cách những trang nhật ký được lật qua từng ngày. Chúng tôi dần quen với nhịp sống nơi đây, quen với tiếng trống trường, với những giờ lên lớp, với cả những khoảnh khắc giản dị mà ấm áp. Để rồi đến khi nhận ra, thì hành trình ấy cũng đã đi đến những ngày cuối cùng.

Ngày chia tay đến thật nhẹ nhàng mà khiến lòng chúng tôi nặng trĩu. Không còn là những buổi sáng vội vàng chuẩn bị giáo án, không còn những giờ đứng lớp đầy hồi hộp, cũng không còn được nghe những tiếng cười nói trong trẻo quen thuộc. Chúng tôi rời đi, mang theo trong tim biết bao nhiêu kỷ niệm, những kỷ niệm không ồn ào nhưng đủ để lắng đọng trong tim của chúng tôi.
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám hiệu Trường Tiểu học Tân Giang, đã tạo điều kiện và luôn dõi theo, nâng đỡ chúng tôi trong suốt chặng đường vừa qua. Xin cảm ơn các cô giáo đã tận tình chỉ dạy, trao cho chúng tôi không chỉ kiến thức mà còn là niềm tin vào con đường mình đã chọn. Và xin cảm ơn các em học sinh, những điều ấm áp, dễ thương nhất mà chúng tôi may mắn được gặp trong hành trình này.
Tạm biệt Trường Tiểu học Tân Giang, tạm biệt một quãng thời gian thật đẹp. Có thể mai này chúng tôi sẽ bước đi trên những con đường khác nhau, nhưng chúng tôi tin rằng, ở đâu đó trong tim mình, vẫn sẽ luôn có một góc nhỏ dành cho nơi đây, nơi đã lặng lẽ thắp lên trong chúng tôi ngọn lửa của tình yêu nghề giáo.

Nằm trong chuỗi hoạt động Chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 - 26/03/2026), CLB Gia sư trực thuộc Liên chi đoàn Khoa Sư phạm, Trường Đại học Hà Tĩnh đã triển khai chương trình tình nguyện “Đại sứ ngôn ngữ” với hoạt động trọng tâm: Giảng dạy và hỗ trợ tiếng Việt cho học sinh, sinh viên Lào đang theo học tại trường.
Lan tỏa tri thức, kết nối văn hóa
Hà Tĩnh từ lâu đã là "địa chỉ đỏ" trong đào tạo lưu học sinh Lào. Thấu hiểu những rào cản về ngôn ngữ mà các bạn học sinh nước bạn gặp phải khi mới sang Việt Nam, các sinh viên khoa Sư phạm đã phát huy chuyên môn nghiệp vụ để trở thành những “Đại sứ ngôn ngữ” đầy nhiệt huyết.
Hoạt động không chỉ dừng lại ở việc bổ trợ kiến thức trên lớp mà còn là nhịp cầu giao lưu văn hóa đặc sắc giữa thế hệ trẻ hai nước.
Những buổi học đặc biệt của sinh viên Sư phạm
Tại các buổi học, các tình nguyện viên của CLB Gia sư đã thiết kế giáo án linh hoạt, tập trung vào:
Kỹ năng giao tiếp thực hành: Giúp học sinh Lào tự tin hơn trong sinh hoạt và học tập hàng ngày.
Ôn tập thuật ngữ chuyên ngành: Hỗ trợ các bạn nắm vững kiến thức các môn học chính khóa tại trường.
Giao lưu văn hóa: Lồng ghép các bài hát, trò chơi dân gian Việt - Lào để tạo không khí học tập hào hứng, thân thiện.

Khẳng định bản lĩnh và tâm huyết của sinh viên trường Đại học Hà Tĩnh
Trao đổi về hoạt động này, đại diện Ban Chấp hành Liên chi đoàn Khoa Sư phạm cho biết:
“Chương trình không chỉ giúp các bạn học sinh Lào cải thiện trình độ tiếng Việt mà còn là môi trường thực hành sư phạm quý báu cho sinh viên trong Khoa. Qua đó, các em được rèn luyện kỹ năng đứng lớp, khả năng xử lý tình huống và trên hết là tinh thần tình nguyện quốc tế cao cả”.

Sự tận tình của các "gia sư" áo xanh đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình và những phản hồi tích cực từ phía các bạn học sinh Lào. Những ánh mắt chăm chú, những nét chữ tiếng Việt dần tròn trịa hơn trên trang giấy chính là minh chứng rõ nét nhất cho thành công của chiến dịch.
Hướng tới kỷ niệm 26/03
Hoạt động “Đại sứ ngôn ngữ” đã góp phần tô thắm thêm truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc Việt - Lào ngay từ ghế nhà trường. Đây cũng là hoạt động có ý nghĩa của tuổi trẻ Khoa Sư phạm nhân dịp Kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/03, khẳng định vai trò xung kích của thanh niên trong thời đại mới.