
1. Đặt vấn đề
Truyện Kiều không chỉ là tác phẩm văn chương đơn thuần, mà là một “hệ sinh thái” văn hóa của người Việt. Truyện Kiều đi vào đời sống một cách đa dạng, trở thành qui chiếu nhiều mặt trong đời sống tinh thần.

Một trong những qui chiếu thú vị của Truyện Kiều là hình thức lẩy Kiều. Là hình thức sử dụng các câu Kiều nhằm “ký gửi” những tâm tư, tình cảm. Trong rất nhiều trường hợp một câu Kiều được trích dẫn có giá trị giao tiếp cho “ngàn điều muốn nói”. Thử hình dung ngữ cảnh giao tiếp, hai người yêu nhau và một trong hai sắp phải lên đường đi, chưa hẹn ngày trở về. Trong ngữ cảnh này, hẳn nhiên tâm trạng của người đi xa nặng trĩu tâm sự, biết bao điều muốn nói mà không có thời gian hoặc “khó nói’, thì câu Kiều “Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” có lẽ là một diễn ngôn đáng nói nhất, hiệu quả nhất. Tháng 7/2015, trong buổi tiệc chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng do Chính phủ Hoa Kỳ tổ chức, ông Joe Biden lúc đó là Phó Tổng thống đã “lẩy” hai câu Kiều: “Trời còn để có hôm nay/Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”. Năm 2016, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Barack Obama khi phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia cũng đã dùng hai câu Kiều để kết thúc bài phát biểu của mình: "Rằng: Trăm năm cũng từ đây/ Của tin gọi một chút này làm ghi”. Tiếp đó, nhân dịp kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác Toàn diện (2013-2023), Tổng thống Jo Biden lại dẫn câu Kiều: “Vinh hoa bõ lúc phong trần/Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày”. Hiệu quả giao tiếp khi “mượn lời” những câu Kiều như vừa nêu có lẽ không cần phải bàn thêm.

Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn một số ngữ cảnh có thể sử dụng hình thức lẩy Kiều để đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn. Việc sử dụng những câu Kiều này không chỉ đáp ứng được thông điệp giao tiếp mà còn tạo ra tính thẩm mĩ của lời nói.
2. Dẫn liệu
Phần khảo cứu của chúng tôi dưới đây, sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về tầm quy chiếu sâu rộng của Truyện Kiều trong đời sống và văn hóa của người dân Việt nam. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát toàn bộ 3.254 câu Kiều và lựa chọn những câu mà theo chúng tôi có sự phổ quát với những tình huống của cuộc sống, mỗi người có thể dùng những câu Kiều này như là những “điển cố” thay lời muốn nói.
Khi muốn thể hiện một thực tế xót xa trong cuộc sống, đó là những người tài năng nhưng phận mỏng, không gặp thuận lợi trong cuộc sống; Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Câu 1-2
Khi cần thể hiện sự đồng cảm cho những cô gái, những người phụ nữ có sắc nhưng bạc mệnh; Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Câu 5-6
Khi cần vận vào những tình huống để nói về một thực tế phũ phàng về những bất hạnh, bất công, phi lí mà giới nữ thường phải gánh chịu; Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Câu 83-84
Khi cần khen ngợi một người có tố chất; Thông minh vốn sẵn tính trời. Câu 29
Khi có tình huống lễ hội, những ngày lễ tết trọng đại; Dập dìu tài tử tử dai nhân/ Ngựa xe như nước áo quần như nêm. câu 48- 49. hay; Một nhà dọn dẹp linh đình/ Quét sân đặt tráp rửa bình thắp hương. Câu 2131
Khi cần lời tán tụng cho những cặp đôi đẹp, xứng hợp; Người quốc sắc kẻ thiên tài. Câu 164. Hay; Trai anh hùng gái thuyền quyên. Câu 2212
Khi thể hiện sự phân vân, không biết tình duyên có kết quả thế nào; Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay chăng 182-183
Khi gặp phải lưới tình khó bề rủ bỏ; Cho hay là thói hữu tình/ Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong 245-246
Khi thể hiện sự khuôn phép gia phong; Dù khi lá thắm chỉ hồng/ Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Câu 334-335
Khi đánh giá những người mạnh dạn trong tình yêu nhất là các cô gái; Xắn tay mở khóa động đào/ Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai. Câu 392-393
Khi đánh giá một người mà tài năng, đức độ bộc lộ ra dung mạo bên ngoài; Anh hoa phát tiết ra ngoài. Câu 416
Khi cần động viên một người đang gặp khó khăn nên tin vào khả năng làm chủ của bản thân trước sống gió cuộc đời; Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. câu 421
Khi thể hiện sự tiếc nuối của những cuộc vui ngắn ngủi chóng qua; Ngày vui ngắn chẳng tày gang câu 426.
Khi thấy bản thân hoặc ai đó vì tình mà vất vả; Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa. Câu 443
Khi say men tình ái; Hoa hương càng tỏ thức hồng/ Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu/ Sóng tình dường đã xiêu xiêu. Câu 498-499
Khi cần nói về lề thói gia phong, giữ gìn trinh tiết; Đã cho vào bậc bố kinh/ Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu. Câu 505
Khi muốn gửi gắm về sự thủy chung; Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời. Câu 546- 547
Khi muốn người khác yên tâm với lời hứa trước sau một lòng; Đã nguyền hai chữ đồng tâm/ Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Câu 556-557
Khi có ngữ huống đáng sợ do những kẻ vô lại gây ra; Người nách thước kẻ tay đao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Câu 478-479
Khi nói đến sự tham lam; Đồ tế nhuyễn của riêng tây/ Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham. Câu 584-585
Khi gặp phải nỗi oan lớn không thể tự biện; Rường cao rút ngược dây oan/ Oan này còn một kêu trời nhưng xa. Câu 594-595
Khi gặp phải tình huống phải lựa chon giữa chữ hiếu và chữ tình; Duyên hội ngộ đức cù lao/ Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. Câu 606-607
Khi dính phải thị phi phải nhờ vả hoặc châm biếm thói xấu hối lộ, đút lót; Tính bài lót đó luồn đây/ có ba trăm lạng việc này mới xong. Câu 611-612
Khi mỉa mai những kẻ chỉ có vẻ ngoài trau chuốt còn bản chất là kẻ tính toán, vụ lợi, con buôn; Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao/ Cò kè bớt một thêm hai. Câu 629- 648
Khi nói đến sức mạnh đổi trắng thay đen của đồng tiền; Trong ay sẵn có đồng tiền/ Tấm lòng đổi trắng thay đen khó gì. Câu 689-690
Khi có điều khó nói; Hở môi ra cũng thẹn thùng. Câu 722
Khi gặp phải nỗi đau xa cách; Đau lòng kẻ ở người đi/ Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. Câu 781-782
Khi đánh giá những kẻ xấu xa, đồng lõa; Tình cờ chẳng hẹn mà nên/ Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Câu 812-813
Khi cần lên án những kẻ cơ hội, tham lam, lợi dụng; Món ngon kề đến tận môi/ Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham. Câu 832-833
Khi xót xa cho những cô gái tài sắc, thanh sạch bị làm cho vấy bẩn; Tiếc thay một đóa trà mi/ Con ong đã tỏ đường đi lối về. Câu 846-847
Khi gặp phải những kẻ lừa gạt, đểu cáng; Nghĩ rằng cũng mạch thư hương/ Hỏi ra mới biết là chàng Sở Khanh. Câu 1062-1063
Khi cần mỉa mai những kẻ hợm mình, khoe mẽ; Nàng đà biết đến ta chăng/ Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi. Câu 1104-1105
Khi gặp phải hoàn cảnh không làm chủ được cuộc đời, phó mặc cho số phận; Cũng liều nhắm mắt đưa chân/ Mà xem con tạo xoay vần đến đâu. Câu 1116- 1117
Khi lên án những kẻ bội tín, nuốt lời, vu vạ; Đem người đẩy xuống giếng khơi/ Nói lời rồi lại nuốt lời được ngay. Câu 1182-1183
Khi thể hiện sự đồng cảm với những người có phẩm hạnh nhưng gặp cảnh trớ trêu; Tiếc thay trong giá trắng ngần/ Đến phong trần cũng phong trần như ai. Câu 1192-1193
Khi gặp phải hoàn cảnh đau khổ, cuộc sống chìm đắm trong xót xa; Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa. Câu 1236-1237
Khi cần cần thể hiện triết lí về nổi buồn của con người khiến cho mọi thứ xung quanh cũng trở nên ảm đạm; Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu 1244-1245
Khi rơi vào nghịch cảnh phải mua vui cho người còn lòng thì ngổn ngang trăm mối; Vui là vui gượng kẻo mà/ Ai tri âm đó mặn mà với ai. Câu 1248-1249
Khi cảm thán về những người bị tình ái làm cho mất phương hướng; Lạ cho cái sóng khuynh thành/ làm cho đổ quán xiêu đình mới thôi. Câu 1302-1303
Khi cần răn mình hay khuyên người khác về sự quyết tâm cao độ, tỉ mĩ, chu đáo khi làm một việc gì đó nhất là những việc lớn của đời người; Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Câu 1332-1333
Khi đánh giá những kẻ thiếu tỉnh táo, làm điều sai trái khó gột rửa được việc đã làm; Trót vì tay đã nhúng chàm/ Dại rồi còn biết khôn làm sao đây. Câu 1397-1398
Khi cảm thán những kẻ làm điều trái phép khó lòng dính phải pháp luật, lao lí; Suy Trong tình trạng nguyên đơn/ Bề nào thì cũng chưa yên bề nào. Câu 1416-1417
Khi có hoàn cảnh chia ly, kẻ ở người đi; Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi/ Vầng Trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường. Câu 1524-1528
Khi thể hiện sự tự tin vì đã làm chủ được tình huống; Lo gì việc ấy mà lo/ Kiến trong miệng chén biết bò đi đâu. Câu 1548-1549
Khi muốn cảm thán về sự nham hiểm của những cuộc đánh ghen; Làm cho cho mệt cho mê/ Làm cho đau đớn ê chề cho coi. Câu 1618-1619
Khi lên án những kẻ trốn chúa lộn chồng; Con này chẳng phải thiện nhân/ Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng/ Ra tuồng mèo mat gà đồng. Câu 1729-1731
Khi khuyên răn những người yếu thế phải ý tứ giữ mình; Kẻo khi sấm sét bất kỳ/ Con ong cái kiến kêu gì được oan. Câu 1758-1759
Khi cảm thán thời gian trôi qua nhanh, hoặc cảm thán về những tháng ngày buồn bã trôi qua một cách vô vị hoặc cảm thán về thời gian bốn mùa tuần hoàn nối tiếp nhau thành qui luật; Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân. Câu 1796-1797
Khi cảm thán về những kẻ nham hiểm, vẻ ngoài che đậy cái tâm xấu xa, tàn độc; Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không giao. Câu 1817-1818
Khi triết lí về cách đối nhân xử thế, cách ứng xử, dùng người; Rằng tài nên trọng mà tình nên thương. Câu 1991
Khi cảm thán về thất bại nhục nhã trong cuộc sống vì khinh suất, thiếu tỉnh táo; Thấp cơ thua trí đàn bà. Câu 1948
Khi cần khuyên răn người khác phải tỉnh táo không vội tin người; Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường. Câu 1970
Khi cảm thán về việc sợ hãi khi từng gặp phải điều xấu trong cuộc sống; Thiếp như co én lạc đàn/ Phải cung rày đã sợ cành cây cong. Câu 2114-2115
Khi muốn biểu đạt về tình nghĩa keo sơn quyết không làm điều bội nghĩa; Dù ai lòng có sở cầu/ Tâm mình xin quyết với nhau một lời. câu 2124
Khi muốn khen ngợi những người đàn ông có tướng mạo quắc thước, mạnh mẽ; Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao. Câu 2168-2169
Khi cảm thán về việc khó qua ải mĩ nhân; Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng. Câu 2177
Khi khen ngợi ai đó có sự tinh tường trong việc đánh giá nhìn nhận sự việc, nhìn nhận con người; Khen cho con mắt tinh đời. câu 2203
Khi thể hiện triết lí về những kẻ gieo điều ác sẽ gặp nghiệp báo; Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều. Câu 2362 hay; Mấy người bạc ác tinh ma/ Mình làm mình chịu kêu mà ai thương. Câu 2392-2393
Khi vận vào tình huống thể hiện tinh thần trượng nghĩa; Anh hùng tiếng đã gọi rằng/ Giữ đường dẫu thấy bất bằng mà tha. Câu 2430
Khi thể hiện khí phách quân tử, xem thường những kẻ tiểu nhân; Phong trần mài một lưỡi gươm/ Những phường giá áo túi cơm sá gì. Câu 2446-2447
Khi biểu đạt tư tưởng phóng khoáng, thích tự do tự tại, không muốn phải khom lưng ràng buộc; Một tay gây dựng cơ đồ/ Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành…/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ vào luồn ra cúi công hầu mà chi/ Chi bằng riêng một biên thùy. Câu 2469- 2473
Khi biểu đạt một điều đã trở thành quy luật; Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu. Câu 2475
Khi muốn đưa ra lời khuyên nhủ một ai đó để đạt được cùng lúc nhiều điều tốt; Trên vì nước dưới vì nhà/ Một là đắc hiếu hai là đắc trung. Câu 2484-2485
Khi khuyên răn những người có suy tính làm điều không phù hợp; Làm chi để tiếng về sau/ Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào. Câu 2516-2517
Khi cảm thán cho những người muốn làm lại cuộc đời sau khi vấp ngã nhưng hoàn cảnh không buông tha; Tiếc thay nước đã đánh phèn/ Mà cho bùn lại vẫn lên mấy lần. Câu 2556-2557
Khi cần răn mình hoặc khuyên người về vị trí, địa vị của mình mỗi việc làm đều được nhiều kẻ trên người dưới chú ý; Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống người ta trông vào. Câu 2591
Khi cần thể hiện triết lí nhân sinh về mọi việc đều có căn duyên của nó, và để giảm bớt khooe đau mỗi người nên cố gắng tu tâm, dưỡng tính; Sư rằng phúc họa đạo trời/ Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra/ Có trời mà cũng tại ta/ Tu là cõi phúc tình là giây oan. Câu 2655- 2658
Khi cảm thán về những người đi theo đường tối, làm những việc không nên làm; Ma đưa lối quỷ đem đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi. Câu 2665-2666
Khi thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu, mở cho những người lầm lạc một con đường; Xưa nay trong đạo đàn bà/ Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường. Câu 3115
Khi thể hiện niềm vui vì trời còn cho cơ hội làm lại một điều gì đó để hướng về cuộc sống hạnh phúc hơn trong tương lai; Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ vén mây giữa đường. Câu 3210-3121
Khi cần kết luận một triết lí nhân sinh đã được minh nghiệm trong cuộc sống; Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Câu 3240-3245. Quan trong hơn, mỗi người phải luôn chú trọng giữ gìn cái nhân bản tốt lành của mình, nếu giữ được căn tính lương thiện thì dù có gặp phải mệnh không tốt cũng có thể hoán cải:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (câu kết)
3. Kết luận
Là một kiệt tác Văn học,truyện Kiều đã trở thành di sản văn hóa gắn với đời sống của dân tộc trong suốt hơn hai trăm năm qua. Nhiều thế hệ người Việt trân quí Truyện Kiều như là “bảo bối” quốc gia. Họ trân trọng và đưa Kiều vào trong đời sống thường nhật của mình như là cách thức để tri ân, cũng là cách hiệu quả để bảo tồn kiệt tác.
Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên công nghệ số, thế hệ trẻ người Việt hôm nay được tiếp xúc với tinh hoa của khoa học, công nghệ. Những tiện ích và sự hấp dẫn của nó là quá lớn. Trong dòng chảy hiện đại ấy, những hoạt động gắn với văn hóa truyền thống như ngâm Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều…ngày càng mờ nhạt. Thiết nghĩ, các bộ ngành liên quan cần có những dự án, những phương thức cụ thể để gìn giữ và phát huy các giá trị của Truyện Kiều trong đời sống.






Trần Đăng Khoa sinh ngày 26/4/1958 trong một gia đình nông dân tại thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (cũ). Với khát vọng “Em suốt đời làm thơ”, Trần Đăng Khoa đã đóng góp cho nền văn học nói chung, nền văn học thiếu nhi nói riêng nhiều bài thơ đặc sắc. “Trăng sáng sân nhà em” là một trong những bài thơ đầu tay của Trần Đăng Khoa, được viết năm 1966. Lúc làm bài thơ này, nhà thơ chỉ mới 8 tuổi, là một cậu học trò nhỏ xíu nhưng đã được coi là một thần đồng về thơ. Bằng những “nét vẽ” có thần, bài thơ “Trăng sáng sân nhà em” hiện ra như một bức tranh làng quê lung linh và huyền diệu.
Suốt cả tuổi thơ của mình, Khoa luôn gắn bó với quê hương, đồng ruộng, với góc sân và mảnh vườn. “Từ góc sân nhà em”, Khoa đã nhìn, đã ngắm và đã đưa vào thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc, thân thương của làng quê Việt nam. Đó là hình ảnh về mảnh sân, ánh trăng, hàng chuối, hàng cau, con chim, con sâu... Tất cả hòa quện vào nhau tạo nên một vẻ đẹp rất riêng của nông thôn Việt Nam.

Ai sinh ra và lớn lên ở thôn quê mới hiểu hết được giá trị của cái sân đối với người nhà nông. Ở nông thôn, cái sân là hình ảnh hết sức quen thuộc và gắn bó với mọi người. Đối với người nhà nông, sân là nơi phơi thóc và tối đến có thể ngồi ăn cơm, uống nước, rồi tiếp khách,... Đối với trẻ con, sân là cả một thế giới, một vũ trụ đầy những bí mật. Còn đối với Trần Đăng Khoa, cái sân có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó là nơi ghi dấu bao nhiêu kỉ niệm về quê hương, về tuổi thơ, là nơi khơi gợi niềm cảm hứng và tứ thơ cho anh. Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ đầu tay của Khoa lại có tên “Từ góc sân nhà em”, rồi “Góc sân và khoảng trời”. Trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” đã có hơn chục bài thơ Khoa viết về cái sân:
“ Góc sân nho nhỏ mới xây
Chiều chiều em đứng nơi này em trông
Thấy trời biển biếc mênh mông
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy”
(Góc sân và khoảng trời)
Hay
“ Em thường rải cái nong
Ra giữa sân ngồi học
Những đêm có trăng mọc
Em chơi cho đến khuya…”
(Cái sân)
Và trong bài thơ này, hình ảnh cái sân thấm đẫm ánh trăng được lặp đi lặp lại nhiều lần qua tiếng reo của cậu bé Khoa:
“Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em…”
Bằng cách sử dụng hai từ đồng nghĩa “tỏ” và “rõ” ở hai câu thơ đi liền nhau, độ sáng của vầng trăng như được nhân lên và mặc sức lan tỏa. Trăng sáng đến mức cái sân như được rọi chiếu từ mọi góc, mọi phía và hiện rõ lên mồn một dưới ánh trăng.
Tuy vậy, ở bài thơ này, cái sân chưa phải là hình ảnh trung tâm mà nó chỉ là điểm tựa, là góc nhìn, là nơi gợi niềm cảm xúc để nhà thơ tí hon ngắm trăng và miêu tả về trăng. Ai đã từng sống ở nông thôn trong những năm tháng chưa có ánh sáng của điện, phải trải qua những đêm trời tối đen như mực mới thấy hết được giá trị và vẻ đẹp của vầng trăng, trăng được ví như “người khách đặc biệt” của thôn quê. Cũng chính vì thế hình ảnh vầng trăng xuất hiện rất nhiều trong thơ Khoa. Trăng gần gũi với Khoa đến mức cậu có thể nghe được tiếng thở của nó - “Nghe trăng thở động tàu dừa”, rồi nửa đêm tỉnh dậy, Khoa lại thấy “Loáng vỡ ánh trăng vàng” và đã có lúc, cậu ngẩn ngơ, thắc mắc hoài “Trăng ơi… từ đâu đến ?”, sao “Trăng hồng như quả chín”, “trăng tròn như mắt cá”,…Có lẽ chỉ có trẻ em ở nông thôn mới có cơ hội cảm nhận được nét đẹp tinh nguyên, trong trẻo của đất trời, của cảnh vật vào những đêm trăng sáng, điều mà trẻ em ở thành phố khó có cơ hội để thưởng thức.
Chờ trăng, ngắm trăng dường như đã trở thành cái thú của cậu bé Khoa. Cũng chính vì vậy, bài thơ mặc dầu không trực tiếp miêu tả về người ngắm trăng, nhưng khi đọc kĩ các câu thơ, chúng ta lại cảm nhận rất rõ cái rạo rực, hân hoan của người ngắm trăng qua lời nhận xét:
"Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn.
Cái rạo rực, hân hoan của người ngắm trăng dường như đã lan nhanh sang cảnh vật:
“Hàng cây cau lặng đứng
Hàng cây chuối đứng im
Con chim quên không kêu
Con sâu quên không kêu”
Mọi vật dường như cũng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của vầng trăng: cây cau - lặng đứng, cây chuối - đứng im, con chim - không kêu, con sâu - không kêu. Mọi vật như chìm đi cho sự thức dậy của trăng và chỉ có trăng thôi. Trăng thống soái, ngự trị và cuốn hút toàn cảnh vật. Trời càng về khuya, trăng càng sáng, mọi vật như lặng đi trước vẻ đẹp huyền diệu của trăng.
Cái tài của Trần Đăng Khoa là ở chỗ không đi vào miêu tả trực tiếp trăng đẹp như thế nào, huyền diệu ra sao, mà vẻ đẹp của ánh trăng được lột tả qua sự chiêm ngưỡng của hàng cau, hàng chuối, con chim, con sâu,… Không phải ngẫu nhiên, trong muôn vàn các con vật, Trần Đăng Khoa lại chọn con chim và con sâu, mà theo tác giả cho biết, là vì: “Chim ở trên trời, sâu ở dưới đất. Cả trời đất đều tĩnh lặng, tự quên mình, đến nỗi có cảm giác tất cả tan biến đi, chỉ còn trăng thôi”. Cái biệt tài của Trần Đăng Khoa còn là ở chỗ chỉ bốn câu thơ, với một số lượng từ ít ỏi, được viết bằng nghệ thuật lặp cấu trúc, lặp ý tài tình, Trần Đăng Khoa đã diễn tả được sức hút mãnh liệt từ vẻ đẹp của vầng trăng. Bốn câu thơ trên suy cho cùng đều diễn tả: mọi vật đều ngừng hoạt động để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vầng trăng. Phải là một con người có tâm hồn nhảy cảm, có óc quan sát tinh tế và đặc biệt phải là người có tình yêu đối với thiên nhiên, cảnh vật sâu sắc, Trần Đăng Khoa mới có thể miêu tả trăng đẹp đến như vậy.
Với nghệ thuật lặp cấu trúc, lặp từ ngữ, bài thơ đã có được âm hưởng và giai điệu của một bài đồng dao dễ thuộc, dễ đi vào lòng trẻ thơ:
Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em…
Hàng cây cau lặng đứng
Hàng cây chuối đứng im
Con chim quên không kêu
Con sâu quên không kêu
Chỉ có trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em…
Có thể nói “Trăng sáng sân nhà em” là một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thôn quê bằng những “nét vẽ” có thần. Bài thơ thể hiện dưới một dạng kết cấu lặp đặc sắc, như một bài đồng dao dễ hiểu, dễ thuộc; đồng thời nó cũng ẩn chưa khả năng rung động và quan sát nhạy cảm, tinh tế của một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Lã Thị Bắc Lý (2003), Giáo trình Văn học trẻ em, NXB ĐHSP.
[2]. Vũ Dương Thụy (tổng biên tập) (2002), Thơ chọn với lời bình. Nhà XB GD

Bồi dưỡng tâm hồn và cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh Tiểu học qua môn mĩ thuật
Tóm tắt: Bài viết khẳng định vai trò đặc biệt của môn Mĩ thuật trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành cảm xúc thẩm mỹ và năng lực cảm thụ cái đẹp cho học sinh tiểu học. Từ cơ sở lí luận của mô hình Mĩ thuật Đan Mạch, quan điểm giáo dục thẩm mỹ của Đinh Gia Lê và định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, bài viết phân tích đặc điểm thẩm mỹ của học sinh tiểu học, đồng thời đề xuất các giải pháp tổ chức hoạt động dạy học Mĩ thuật theo hướng trải nghiệm, cảm xúc và sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách thẩm mỹ và tình yêu cái đẹp cho thế hệ học sinh mới.
Từ khóa: giáo dục thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ, mĩ thuật tiểu học, năng lực sáng tạo, thưởng thức nghệ thuật.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình giáo dục tiểu học, Mĩ thuật giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ, khả năng quan sát, trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cảm xúc nghệ thuật cho học sinh. Nếu các môn học khác chủ yếu tác động đến nhận thức và tư duy logic, thì Mĩ thuật lại hướng đến nuôi dưỡng tâm hồn và cảm xúc, giúp trẻ biết rung động, biết yêu, biết cảm nhận và thể hiện cái đẹp bằng ngôn ngữ nghệ thuật.

Hình 1. Học sinh tiểu học ở Đan Mạch trong giờ học mỹ thuật – minh họa mô hình giáo dục nghệ thuật dựa trên cảm xúc và trải nghiệm
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, môn Mĩ thuật được xây dựng trên ba mạch nội dung gắn kết: quan sát – sáng tạo – trao đổi/thưởng thức. Trong đó, mạch “thưởng thức” không chỉ dừng lại ở việc nhận biết và phân tích tác phẩm, mà còn là quá trình trẻ đối thoại với cái đẹp, bộc lộ cảm xúc, phát triển khả năng cảm thụ và năng lực thể hiện.
Tuy nhiên, thực tiễn dạy học Mĩ thuật ở tiểu học hiện nay cho thấy phân môn thưởng thức và cảm thụ nghệ thuật chưa thực sự được coi trọng. Không ít tiết học còn thiên về mô tả, thuyết trình khô cứng hoặc cung cấp kiến thức về họa sĩ, dòng tranh, khiến học sinh tiếp nhận thụ động. Các em chưa được sống trong thế giới nghệ thuật bằng cảm xúc, chưa được trải nghiệm cái đẹp bằng giác quan.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi trẻ em tiếp xúc với vô vàn hình ảnh, âm thanh và màu sắc từ công nghệ, việc bồi dưỡng khả năng cảm nhận và phân biệt cái đẹp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Giáo dục thẩm mỹ không chỉ là dạy cho trẻ vẽ đẹp, mà quan trọng hơn là giúp trẻ sống đẹp, biết yêu thương, biết cảm thông và biết trân trọng cái đẹp trong đời sống thường nhật.
2. NỘI DUNG
2.1. Đặc điểm thẩm mỹ của học sinh tiểu học

Hình 2. Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia hoạt động vẽ tranh – biểu hiện cảm xúc qua màu sắc và hình khối
Học sinh tiểu học là lứa tuổi có tâm hồn trong sáng, trí tưởng tượng phong phú và cảm xúc chân thật. Các em thường dễ rung động trước những hình ảnh gần gũi, màu sắc tươi sáng, những câu chuyện giản dị mà chứa chan cảm xúc. Cái đẹp đối với trẻ em thường gắn liền với cái thiện – những điều đáng yêu, đáng quý, những hành động tốt đẹp trong cuộc sống.
Ở giai đoạn này, năng lực thẩm mỹ của học sinh mới chỉ ở mức sơ khởi, biểu hiện qua việc yêu thích màu sắc, hình khối và những hình ảnh dễ hiểu. Các em chưa có khả năng phân tích sâu về nghệ thuật nhưng lại có trực giác thẩm mỹ rất mạnh, dễ cảm nhận và ghi nhớ những hình tượng nghệ thuật tác động trực tiếp đến xúc cảm.
Chính vì vậy, hoạt động Mĩ thuật nói chung và thưởng thức nghệ thuật nói riêng cần được tổ chức sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý và ngôn ngữ của trẻ. Thông qua việc quan sát, trò chuyện, đóng vai, nghe nhạc hoặc kể chuyện kết hợp với tranh, học sinh dần học cách thể hiện cảm xúc, phát triển khả năng ngôn ngữ và năng lực biểu đạt cá nhân.
2.2. Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ qua môn Mĩ thuật
Theo mô hình Mĩ thuật Đan Mạch, giáo dục nghệ thuật hướng đến ba trụ cột: cảm thụ – sáng tạo – chia sẻ nhấn mạnh việc trao quyền cho học sinh được nói lên quan điểm cá nhân.

Hình 3. Minh họa ba trụ cột của mô hình Mĩ thuật Đan Mạch: cảm thụ – sáng tạo – chia sẻ
Trong đó, hoạt động cảm thụ nghệ thuật được xem như điểm khởi đầu của quá trình sáng tạo. Khi học sinh được trải nghiệm và đối thoại với tác phẩm bằng cảm xúc, suy nghĩ và tưởng tượng của chính mình, các em sẽ tự hình thành mối liên hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Tư tưởng này cũng tương đồng với quan điểm của Đinh Gia Lê, người cho rằng giáo dục thẩm mỹ phải bắt đầu từ cảm xúc chân thật. Mĩ thuật là con đường đi vào tâm hồn trẻ em – nơi cảm xúc được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển thành nhân cách.
Bên cạnh đó, Chương trình GDPT 2018 xác định rõ: “Giáo dục mĩ thuật nhằm hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ, giúp học sinh nhận biết, cảm thụ và thể hiện cái đẹp trong nghệ thuật và trong cuộc sống.” Mục tiêu này đặt cảm xúc và trải nghiệm thẩm mỹ ở vị trí trung tâm của quá trình học tập.
Như vậy, hoạt động Mĩ thuật không chỉ rèn kỹ năng vẽ, tô màu hay tạo hình, mà còn là môi trường để học sinh rèn luyện xúc cảm thẩm mỹ, bồi dưỡng tâm hồn nhân ái và óc sáng tạo – những phẩm chất cốt lõi của con người hiện đại.
2.3. Giải pháp bồi dưỡng tâm hồn và cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh tiểu học qua môn Mĩ thuật
2.3.1. Tạo không gian nghệ thuật giàu cảm xúc trong lớp học
Giờ học Mĩ thuật nên được tổ chức như một “không gian nghệ thuật thu nhỏ”, nơi học sinh có thể tự do cảm nhận, chia sẻ và sáng tạo. Giáo viên có thể sử dụng âm nhạc nhẹ nhàng, ánh sáng phù hợp, tranh ảnh phong phú để khơi dậy cảm xúc ban đầu.
Ví dụ: Khi giới thiệu tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân, giáo viên có thể mở một bản nhạc du dương, hỏi học sinh: “Các con có thấy ánh sáng trong bức tranh giống ánh sáng buổi sáng ở nhà mình không?” – những câu hỏi gợi cảm xúc sẽ giúp các em dễ hòa mình vào tác phẩm.
2.3.2. Khuyến khích học sinh bộc lộ cảm xúc cá nhân
Giáo viên nên đặt các câu hỏi mở để học sinh chia sẻ cảm nhận thật: “Con thấy gì trong bức tranh?”, “Chi tiết nào khiến con thích nhất?”, “Nếu con được vẽ lại, con sẽ thay đổi gì?
Qua quá trình nói – nghe – phản hồi, học sinh không chỉ phát triển khả năng biểu đạt mà còn học cách tôn trọng cảm xúc của người khác, hiểu rằng cái đẹp có thể được cảm nhận từ nhiều góc nhìn khác nhau.
2.3.3. Tổ chức hoạt động trải nghiệm, trao đổi và chia sẻ
Các hình thức như “phòng tranh mini”, “người thuyết minh tranh”, “ngày hội Mĩ thuật” hay “góc nghệ thuật trong lớp” giúp học sinh thể hiện bản thân và cảm nhận cái đẹp thông qua sự tương tác.

Hình 4. Hoạt động “phòng tranh mini” trong lớp học – giúp học sinh chia sẻ cảm nhận và phát triển năng lực thẩm mỹ
Bên cạnh đó, việc tham quan bảo tàng, triển lãm hoặc bảo tàng ảo sẽ mở rộng không gian thưởng thức, kết nối nghệ thuật học đường với đời sống thực tế.
2.3.4. Phát huy vai trò của giáo viên như người dẫn dắt cảm xúc
Giáo viên Mĩ thuật không chỉ là người dạy kỹ năng mà còn là “người gieo hạt cảm xúc”. Thái độ yêu nghề, giọng nói, cách dẫn chuyện và sự đồng cảm của giáo viên có ảnh hưởng lớn đến tâm thế của học sinh. Khi giáo viên thực sự rung cảm trước cái đẹp, học sinh cũng sẽ được truyền cảm hứng để yêu nghệ thuật và cuộc sống.
2.3.5. Ứng dụng công nghệ và phương tiện hiện đại
Công nghệ số mở ra cơ hội mới trong việc thưởng thức nghệ thuật. Học sinh có thể khám phá bảo tàng ảo, xem video nghệ thuật 3D, hoặc sử dụng ứng dụng tạo tranh AI để trải nghiệm cảm giác “người sáng tạo”. Khi kết hợp giữa công nghệ và cảm xúc, việc dạy học Mĩ thuật trở nên hấp dẫn, gần gũi và phù hợp với trẻ em thời đại số.
3. KẾT LUẬN
Môn Mĩ thuật ở tiểu học không chỉ dạy trẻ vẽ hay tô màu, mà còn mở ra cánh cửa đi vào thế giới tâm hồn. Qua mỗi giờ học, các em được sống trong không gian của cái đẹp, học cách rung động, biết yêu thương và biết cảm thông. Khi được tổ chức đúng tinh thần trải nghiệm – cảm xúc – chia sẻ, Mĩ thuật trở thành phương tiện giáo dục nhân cách bền vững.
Giáo dục thẩm mỹ qua Mĩ thuật chính là con đường giúp học sinh hình thành nhân cách văn hóa, biết cảm thụ, sáng tạo và sống đẹp. Đó cũng là mục tiêu nhân văn sâu sắc mà Chương trình GDPT 2018 hướng tới – xây dựng thế hệ công dân không chỉ giỏi tri thức mà còn giàu tâm hồn, biết trân trọng và kiến tạo cái đẹp cho cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông – Mĩ thuật. NXB Giáo dục Việt Nam.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Tập huấn dạy học Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018. NXB Giáo dục Việt Nam.
[3] Đinh Gia Lê. (2015). Giáo dục Thẩm mỹ và Nghệ thuật trong nhà trường. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[4] Lê Thị Hải Yến (2021). Mô hình Mĩ thuật Đan Mạch: Những ứng dụng vào giáo dục Mĩ thuật Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục.
[5] Phạm Thị Lan. (2020). Tổ chức hoạt động thưởng thức mĩ thuật cho học sinh tiểu học. Tạp chí Giáo dục.
[6] Nguyễn Thị Nhung. (2021). Vận dụng mô hình Mỹ thuật Đan Mạch trong dạy học ở tiểu học. Tạp chí Khoa học Giáo dục.

Sử dụng video bài hát, hoạt động tương tác, Giáo viên dạy Âm nhạc các trường THCS trên địa bàn đã chủ động cập nhật, tập huấn CNTT khai thác, sử dụng Internet vào việc thiết kế các bài học giúp học sinh tiếp cận bài học một cách trực quan, sinh động và hứng thú hơn trong học tập. Việc ứng dụng công nghệ đã cung cấp cho học sinh những công cụ sáng tạo để khám phá và phát triển tài năng âm nhạc của mình. Các ứng dụng và phần mềm chỉnh sửa âm thanh và hình ảnh giúp các em tạo ra nhạc phẩm riêng, ghi âm giọng hát và chơi nhạc cụ. Điều này không chỉ tạo ra sự thú vị trong quá trình học mà còn khuyến khích học sinh thể hiện sự sáng tạo và tự tin.
Khai thác phần mềm soạn thảo nhạc. CNTT mở ra một tài nguyên rộng lớn đã hỗ trợ học sinh sáng tác, phối khí và biểu diễn âm nhạc. Công nghệ giúp các em truyền tải đam mê và tình yêu dành cho âm nhạc một cách sinh động. Bằng cách sử dụng các phần mềm, ứng dụng và trang web giáo dục âm nhạc, giáo viên có thể trình diễn và chia sẻ âm nhạc một cách độc đáo với học sinh của mình. Hình ảnh, video và âm thanh sẽ giúp học sinh hiểu và cảm nhận âm nhạc một cách sâu sắc hơn.
Ứng dụng Internet học tập âm nhạc. Các ứng dụng của Internet đã cung cấp kho tàng bài hát, trò chơi và hoạt động học tập đa dạng. Công nghệ cho phép học sinh làm việc nhóm và chia sẻ công việc của mình dễ dàng hơn. Họ có thể cùng nhau tạo ra các bài hát, biểu diễn và thu âm bằng cách sử dụng các công cụ trực tuyến. Qua đó, các em học cách lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau, phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác.
Tổ chức các hoạt động học tập trực tuyến. Từ đó giúp học sinh học tập mọi lúc mọi nơi. Âm nhạc trở nên sinh động và hấp dẫn hơn với các video bài hát, hình ảnh minh họa trực quan, các trò chơi tương tác. Công nghệ thông tin mở ra cánh cửa cho học sinh tiếp cận với âm nhạc từ khắp nơi trên thế giới. Các em có thể nghe và tìm hiểu về âm nhạc của các nền văn hóa khác nhau, khám phá các thể loại âm nhạc mới và tìm hiểu về các nhạc sĩ tài năng. Điều này giúp mở rộng văn hóa âm nhạc cho học sinh và khuyến khích sự đa dạng trong sáng tạo âm nhạc của họ.
Sáng tạo, phát triển âm nhạc qua ứng dụng mạng xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học âm nhạc mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và học sinh. Giáo viên có thể truyền tải kiến thức hiệu quả hơn, học sinh hứng thú và tích cực tham gia vào các hoạt động âm nhạc. Từ đó, giúp phát triển năng khiếu âm nhạc và khơi gợi niềm đam mê nghệ thuật cho các em ngay từ khi còn nhỏ. Qua việc truyền cảm hứng âm nhạc, khám phá tài năng, phát triển kỹ năng hợp tác và mở rộng phạm vi học tập, chúng ta đã tạo ra môi trường học tập thú vị và đa dạng cho các em.
Thực tế cho thấy, giáo viên nào nắm bắt, áp dụng công nghệ hiệu quả tốt, giúp học sinh phát triển năng lực Âm nhạc, có hướng đi phù hợp trong sự phát triển chung của xã hội.
Tuy nhiên quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra những thách thức, khó khăn đối với giáo viên hiện nay. Đó là năng lực, kỹ năng, trình độ của mỗi người, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin của một số giáo viên còn những hạn chế nhất định.
Vì vậy, quá trình tham gia chuyển đổi số của một số giáo viên, đã và đang gặp những khó khăn không nhỏ. Khi tiếp cận CNTT giáo viên vẫn còn lúng túng, chưa cập nhật được những thay đổi của CNTT cho các phần mềm Âm nhạc.
Ngoài ra, sự xuất hiện của nhiều phần mềm thông minh trong lĩnh vực âm nhạc, đã dẫn tới thực trạng phụ thuộc vào công nghệ, khiến người học trở nên lười biếng, chạy theo thị hiếu, không nỗ lực khai phá năng lực bản thân, muốn thành công nhanh, bỏ qua thực chất.
Quá trình chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi số vào phương pháp dạy học môn Âm nhạc ở các trường THCS tên địa bàn thành phố Hà Tĩnh. Ứng dụng chuyển đổi số vào dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh.