foto1 foto2 foto3 foto4 foto5


+84 0393.885.127
khoasp@htu.edu.vn

Khoa Sư phạm

Trường Đại học Hà Tĩnh

Trong lịch sử toán học, hiếm có bài toán nào vừa giản dị trong phát biểu, vừa thách thức trí tuệ nhân loại suốt hơn ba thế kỷ như định lý Fermat lớn. Chỉ bằng một ghi chú ngắn ngủi bên lề cuốn Arithmetica vào năm 1637, Pierre de Fermat đã để lại một bí ẩn số học đẹp đẽ với lời giải tuyệt diệu mà lề sách nhỏ không thể viết ra được. Từ đó, biết bao thế hệ các nhà toán học đã bị cuốn vào cuộc hành trình đi tìm lời giải. Mãi đến hơn 350 năm sau, nhà toán học người Anh - Andrew Wiles - mới công bố chứng minh hoàn chỉnh cho định lý này, chứng minh này đại diện cho sức mạnh của đam mê, bền bỉ và tinh thần khám phá tri thức của con người.

Pierre de Fermat (1607–1665) là một luật gia người Pháp, làm việc tại tòa án Tối cao Toulouse, nhưng ông được biết đến nhiều hơn như một nhà toán học nghiệp dư xuất sắc. Dù không giảng dạy hay viết sách, Fermat lại có niềm yêu thích đặc biệt đối với các bài toán số học, hình học và phương trình Diophantine. Các ý tưởng của ông thường được trình bày qua thư từ trao đổi với Descartes, Pascal và nhiều nhà toán học đương thời. Ông có thói quen ghi những nhận xét ngắn ở lề sách, và một trong những ghi chú đó đã trở thành bài toán thách thức toán học suốt hơn ba thế kỷ. Định lý Fermat bắt nguồn từ một ghi chú của Pierre de Fermat viết vào khoảng năm 1637 trên lề cuốn Arithmetica của Diophantus. Trong đó, ông khẳng định rằng phương trình a^n + b^n = c^n không có nghiệm nguyên dương khi n>2, và nói rằng ông có một chứng minh tuyệt vời nhưng lề sách quá hẹp để ghi lại. Định lý Fermat lớn ngắn gọn, dễ hiểu ngay cả với học sinh phổ thông, nhưng việc chứng minh nó lại vượt xa khả năng của các phương pháp toán học truyền thống trong suốt nhiều thế kỷ. Chú thích ngắn ngủi của Fermat đã trở thành lời thách đố lớn của toán học thế giới, thôi thúc biết bao thế hệ các nhà toán học tìm kiếm lời giải.

T1 2026 Hai Anh 7 1 0

Ảnh 1. Nhà toán học Pierre de Fermat

Tuy Fermat không đưa ra lời giải cho cả bài toán nhưng ông đưa ra được chứng minh cho trường hợp n=4 bằng phương pháp xuống thang, một kỹ thuật do ông phát triển. Ý tưởng chính để chứng minh là từ một nghiệm nguyên dương giả định, Fermat chỉ ra có thể tạo ra một nghiệm nhỏ hơn, rồi lại nhỏ hơn nữa, dẫn đến chuỗi vô hạn giảm dần - điều không thể xảy ra với số nguyên dương. Sau khi Fermat qua đời, thông qua các bài toán số học ông trao đổi thư từ với Mersenne và Pascal, các nhà sử học ước đoán trường hợp này được chứng minh trong khoảng thời gian 1640–1650.

Vào năm 1770, Leonhard Euler (1707–1783) công bố chứng minh cho trường hợp n=3 bằng cách sử dụng các tính chất của số nguyên trong những vành đặc biệt, mở rộng công cụ số học so với thời Fermat. Trong cùng giai đoạn, Euler cũng đưa ra lập luận cho trường hợp n=4 dựa trên phương pháp xuống thang, tương ứng với hướng tiếp cận mà Fermat đã sử dụng trước đó.

Năm 1828, Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet (1805–1859) công bố chứng minh cho trường hợp số mũ n=5, trong đó ông sử dụng các phương pháp số học cổ điển để loại trừ khả năng tồn tại nghiệm nguyên không tầm thường của phương trình a^5 + b^5 = c^5. Công trình của Dirichlet đã trở thành một mốc quan trọng trong chuỗi các kết quả từng phần hướng tới việc hiểu rõ hơn về bài toán Fermat.

T1 2026 Hai Anh 7 1 2

Ảnh 2. Một trang sách Arithmetica của Diophantus

Gabriel Lamé (1795–1870) là một trong những nhà toán học đóng góp vào việc khảo sát Định lý Fermat lớn trong thế kỷ XIX. Năm 1839, ông công bố chứng minh cho trường hợp số mũ n=7, sử dụng các phương pháp số học đại số dựa trên tính chất của các số nguyên Gauss. Kết quả này cùng với những chứng minh cho các số mũ nhỏ khác đã góp phần mở rộng hiểu biết về tính vô nghiệm nguyên của phương trình a^n + b^n = c^n trong các trường hợp cụ thể trước khi định lý được giải quyết hoàn toàn.

Trong các thế kỷ XVII–XIX, hướng tiếp cận định lý Fermat lớn là giải quyết các trường hợp riêng lẻ cho từng số mũ, trong thế kỷ XX, sự hình thành và phát triển các công cụ sâu hơn của các ngành toán học hiện đại góp phần giải quyết bài toán nổi tiếng này. Năm 1950–1970 một bước ngoặt quan trọng để chứng minh định lý Fermat lớn xuất hiện với công trình của Yutaka Taniyama và Goro Shimura, đưa ra giả thuyết Taniyama–Shimura liên kết đường cong elliptic với dạng modular. Tiếp đó, Gerd Faltings chứng minh định lý Mordell năm 1983, tạo nên nền tảng quan trọng cho lý thuyết đường cong elliptic hiện đại. Một đột phá quyết định đến vào năm 1986 khi Ken Ribet chứng minh định lý Epsilon, khẳng định rằng nếu giả thuyết Taniyama–Shimura đúng cho một lớp đường cong Eliptic nhất định thì định lý Fermat lớn sẽ được chứng minh. Tất cả những bước tiến này mở đường cho công trình của Andrew Wiles vào năm 1994, khi ông chứng minh phần đủ của giả thuyết Taniyama–Shimura cho các đường cong elliptic bán ổn định, qua đó hoàn tất lời giải Định lý Fermat lớn.

T1 2026 Hai Anh 7 1 3

Ảnh 3. Nhà toán học Andrew Wiles

Andrew Wiles (sinh năm 1953) là một nhà toán học người Anh, chuyên gia về lý thuyết số và các dạng môđun. Ông lớn lên tại Cambridge và từ nhỏ đã say mê bài toán Fermat lớn sau khi tình cờ đọc được về nó trong một cuốn sách thiếu nhi. Wiles theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu tại đại học Cambridge, sau đó làm việc tại Princeton University, nơi ông trở thành một trong những nhà toán học hàng đầu trong lĩnh vực đường cong elliptic. Hành trình giải quyết định lý Fermat lớn của Andrew Wiles bắt đầu từ mùa hè năm 1986, khi ông nghe Ken Ribet trình bày chứng minh định lý Epsilon, cho thấy rằng nếu giả thuyết Taniyama–Shimura đúng cho các đường cong Eliptic bán ổn định thì định lý Fermat lớn sẽ được chứng minh. Nhận ra đây là chìa khóa để giải bài toán tuổi thơ, Wiles âm thầm bắt đầu một chương trình nghiên cứu bí mật kéo dài bảy năm. Trong thời gian này, ông làm việc gần như hoàn toàn cô lập, phát triển các kỹ thuật mới trong lý thuyết số đại số, đặc biệt là phương pháp “modular lifting” và lý thuyết về các biểu diễn Galois. Tháng 6 năm 1993, Wiles công bố bản chứng minh tại Cambridge trong loạt bài giảng gây tiếng vang lớn. Tuy nhiên, vào cuối năm đó, các nhà toán học phát hiện một lỗ hổng quan trọng trong phần lập luận chủ chốt. Wiles hợp tác với học trò cũ của mình là Richard Taylor nỗ lực sửa chữa, đến tháng 9 năm 1994, họ tìm ra cách khắc phục bằng một kỹ thuật hoàn toàn mới, dẫn đến chứng minh hoàn chỉnh định lý modular cho các đường cong Eliptic bán ổn định. Kết quả này đồng thời khẳng định định lý Fermat lớn là đúng, kết thúc hành trình kéo dài hơn 350 năm.

Như vậy, từ bài toán Fermat viết bên lề sách của Diophantine ngay cả học sinh phổ thông có thể hiểu đến chứng minh hơn 200 trang sau ba thế kỷ rưỡi của Andrew Wiles và cộng sự đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử toán học. Từ những nỗ lực chứng minh từng trường hợp riêng lẻ, đến sự hình thành của những lý thuyết trừu tượng như đường cong elliptic, dạng môđun và biểu diễn Galois, hành trình ấy phản ánh sự phát triển liên tục và mạnh mẽ của toán học hiện đại. Công trình của Andrew Wiles và Richard Taylor không chỉ hoàn tất một định lý lâu đời mà còn cho thấy sức mạnh của sự kết nối giữa các lĩnh vực tưởng như xa rời nhau, làm sáng tỏ những mối quan hệ sâu xa giữa các cấu trúc vốn tưởng chừng độc lập. Lời giải của Fermat vì thế không chỉ khép lại một chương lịch sử kéo dài hơn 350 năm, mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới, tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ toán học tương lai.

Lời giới thiệu: Sáng ngày 25/12/2025, tại Hội nghị tổng kết công tác Đảng của Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh, đảng viên Trần Thị Ngọc – sinh viên K16-GDTH đã thay mặt chi bộ Khoa Sư phạm phát biểu về công tác NCKH của sinh viên Khoa. Chúng tôi trân trọng đăng toàn văn bài phát biểu của bạn Trần Thị Ngọc tại hội nghị.

Kính thưa quý vị đại biểu!

Kính thưa đồng chí Bí thư Đảng bộ, các đồng chí trong Ban thường vụ, Ban chấp hành Đảng ủy!

Kính thưa các đồng chí Đảng viên thuộc Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh!

Tên tôi là Trần Thị Ngọc, sinh viên K16 GDTH, Đảng viên sinh viên thuộc chi bộ Khoa Sư phạm. Tôi rất vinh dự được chi ủy Khoa Sư phạm phân công thay mặt chi bộ trình bày tham luận tại hội nghị tổng kết công tác Đảng năm học 2025 – 2026. Đầu tiên cho phép tôi kính chúc sức khỏe quý vị đại biểu, các đồng chí trong Ban thường vụ, Ban chấp hành và tất cả các đồng chí Đảng viên dự hội nghị! Chúc hội nghị thành công tốt đẹp!

T12 2025 SV 25 12 1

Đảng viên, sinh viên Trần Thị Ngọc – K16 GDTH trình bày tham luận tại Hội nghị Tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2025 – 2026

Kính thưa các đồng chí!

Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên ngày càng được đặt ra cấp thiết. Đối với các cơ sở đào tạo sư phạm, bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa thiết thực trong việc hình thành tư duy khoa học, năng lực nghề nghiệp và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn giáo dục.

Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi xin được trình bày tham luận với chủ đề: “Phát huy vai trò chi bộ trong lãnh đạo chỉ đạo việc nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên”.

1. Ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên sư phạm

Nghiên cứu khoa học trong sinh viên sư phạm không chỉ nhằm tạo ra các sản phẩm khoa học, mà quan trọng hơn là góp phần:

- Rèn luyện tư duy khoa học, tư duy phản biện và năng lực sáng tạo cho sinh viên;

- Giúp sinh viên gắn kết chặt chẽ giữa lý luận giáo dục với thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông;

- Nâng cao chất lượng học tập, thực tập sư phạm và khóa luận tốt nghiệp;

- Hình thành phẩm chất, tác phong làm việc khoa học – những yếu tố cần thiết đối với người giáo viên trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.

Do đó, việc tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh nói chung và Chi bộ Khoa Sư phạm nói riêng.

2. Vai trò của Chi bộ khoa Sư phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Chi bộ Khoa Sư phạm giữ vai trò hạt nhân chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trước hết, chi bộ có trách nhiệm định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên về vị trí, ý nghĩa của nghiên cứu khoa học trong đào tạo giáo viên.

Thông qua nghị quyết, chương trình công tác hằng năm, chi bộ lãnh đạo việc tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học trong khoa; chỉ đạo đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đảng viên, tích cực tham gia hướng dẫn sinh viên nghiên cứu, gắn nghiên cứu khoa học với đổi mới phương pháp giảng dạy và thực tiễn giáo dục phổ thông.

Đồng thời, chi bộ phát huy vai trò nêu gương của đảng viên trong nghiên cứu khoa học, tạo môi trường học thuật nghiêm túc, lành mạnh góp phần khơi dậy tinh thần học tập, nghiên cứu và sáng tạo trong sinh viên.

3. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Sư phạm hiện nay

3.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Nhà trường và sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ Khoa Sư phạm, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức của giảng viên và sinh viên về vai trò của nghiên cứu khoa học từng bước được nâng lên; một số sinh viên đã chủ động tham gia các đề tài nghiên cứu, hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các cấp. Cụ thể:

-  Số lượng sinh viên tham gia NCKH tăng đều qua các năm. Một số đề tài đạt giải thưởng cao, tiêu biểu trong năm học 2024 - 2025:

+ Sinh viên Nguyễn Viết Quân (lớp K14 Sư phạm Toán) đạt Giải Nhì Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2025 với đề tài: “ Một số tính chất của toán tử chiếu metric trong không gian Hilbert”.

+ Hai sinh viên Võ Thị Vân Anh và Nguyễn Khánh Uyên được mời báo cáo tại Hội nghị SV NCKH của Trường Đại học Giáo dục với đề tài: Ứng dụng công nghệ mô phỏng 3D trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 3 và môn Khoa học 4.

+ Sinh viên Phan Thị Quỳnh (lớp K14A GDTH) đạt giải Nhất giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Trường với đề tài “ Phát triển tư duy phản biện cho học sinh lớp 3 qua dạy học môn tự nhiên và xã hội tại trường tiểu học Cẩm Thành – Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh”

+ Sinh viên Nguyễn Thị Trà Giang (Lớp K14A GDTH) đạt giải Nhì giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Trường với đề tài “Sử dụng các phần mềm AI trong dạy học một số nội dung môn Toán lớp 3”.

+ Năm học 2024 – 2025 cũng ghi nhận khoảng 10 bài báo công bố trên các tạp chí khoa học của sinh viên Khoa Sư phạm đặc biệt có 1 công bố trên tạp chí quốc tế.

3.2. Những hạn chế, tồn tại

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Sư phạm vẫn còn một số hạn chế cần thẳng thắn nhìn nhận:

- Tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH vẫn còn thấp so với yêu cầu của một khoa đào tạo giáo viên.

- Vẫn còn tình trạng sinh viên chỉ tham gia NCKH để “đủ điểm” xét học bổng, xét tốt nghiệp, thiếu đam mê và động lực nghiên cứu thực sự.

-  Chất lượng một số đề tài còn chung chung, thiếu chiều sâu khoa học, ít tính ứng dụng thực tiễn trong môi trường giáo dục phổ thông.

-  Sự phối hợp giữa chi bộ, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong tổ chức phong trào NCKH chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên.

Những hạn chế trên cho thấy, để thực sự đưa phong trào NCKH trong sinh viên Khoa Sư phạm đi vào chiều sâu, đạt chất lượng cao, cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ Khoa Sư phạm – hạt nhân chính trị ở cơ sở.

4. Một số giải pháp cụ thể để chi bộ phát huy vai trò lãnh đạo

- Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, khơi dậy khát vọng nghiên cứu khoa học Chi bộ cần đưa nội dung giáo dục về vai trò của NCKH vào các buổi sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên đề, hội nghị cán bộ, đảng viên và sinh viên. Nhấn mạnh Nghiên cứu khoa học không chỉ là nhiệm vụ học tập, mà là trách nhiệm của người thầy tương lai – người sẽ truyền lửa đam mê học tập cho hàng ngàn học sinh, sinh viên sau này. Mỗi đảng viên phải là tấm gương tham gia NCKH, hướng dẫn sinh viên, đồng hành cùng sinh viên trong các đề tài.

-  Tiếp tục thực hiện và phát huy nghị quyết: “đưa tiêu chí NCKH và Rèn luyện NVSP vào tiêu chuẩn xét kết nạp Đảng viên và xét chuyển chính thức cho Đảng viên dự bị”  của chi bộ nhiệm kỳ 2020 – 2022 (đã tiếp tục thực hiện và bổ sung trong nhiệm kỳ 2022 – 2024; cụ thể tháng 8/2021 nghị quyết được thông qua và được bổ sung vào tháng 5/2023) với những kế hoạch hành động cụ thể. Nghiên cứu đưa chỉ tiêu SV NCKH vào nghị quyết Đại hội Chi bộ, nhiệm kỳ 2027 – 2030, cụ thể:

+ Trong nhiệm kỳ 2027 - 2030, tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH đạt trên 30% và trên 50% trong giai đoạn tiếp theo.

+ Hàng năm có ít nhất 2–3 công trình đạt giải nhì SV NCKH cấp trường trở lên.

+ Có ít nhất 1–2 công trình được áp dụng thực tiễn tại các trường phổ thông, trường tiểu học trên địa bàn tỉnh.

+ Xây dựng cơ chế khen thưởng rõ ràng: sinh viên đạt giải cấp trường trở lên được cộng điểm rèn luyện, ưu tiên xét học bổng, xét tốt nghiệp.

- Phát huy vai trò nêu gương của Đảng viên, các giảng viên có học vị cao: đặc biệt Đảng viên có học vị Tiến  sĩ, giảng viên có học vị Tiến sĩ, Đảng viên đang đi học Nghiên cứu sinh trong hướng dẫn sinh viên. Mỗi đảng viên giảng viên có học vị Tiến sĩ đăng ký chỉ tiêu cụ thể:

+  Hướng dẫn ít nhất 1–2 đề tài NCKH sinh viên/năm.

+  Tham gia hội đồng chấm giải NCKH cấp khoa, cấp trường.

+  Hỗ trợ sinh viên hoàn thiện bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, khoa học giáo dục... Tổ chức “Ngày hội đảng viên, giảng viên có học vị Tiến sĩ cùng sinh viên nghiên cứu khoa học” định kỳ 2 lần/năm để chia sẻ kinh nghiệm, kết nối ý tưởng.

-  Chi bộ lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội: Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên để tuyên truyền, động viên khuyến khích phong trào SV NCKH; tiếp tục củng cố và phát huy vai trò các CLB Đảng viên SV, CLB SV NCKH của Liên chi đoàn.

- Tổ chức các cuộc thi: “Sinh viên Khoa Sư phạm với NCKH”, “Thiết kế bài giảng sáng tạo”, “Ý tưởng đổi mới giáo dục”, kết nối với các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh để chuyển giao sản phẩm.

- Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ từ Nhà trường

Chi bộ kiến nghị Ban Giám hiệu:

+ Tăng kinh phí hỗ trợ NCKH cho sinh viên Khoa Sư phạm.

+ Đưa thành tích NCKH vào tiêu chí đánh giá thi đua, xét học bổng, xét tốt nghiệp, xét kết nạp Đảng trong toàn Đảng Bộ.

+  Tạo điều kiện cho giảng viên trẻ, đảng viên trẻ tham gia hướng dẫn sinh viên.

5. Kết luận

Kính thưa các đồng chí!

Phát huy vai trò Chi bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, hình thành ở sinh viên tư duy khoa học, tinh thần đổi mới sáng tạo và bản lĩnh nghề nghiệp trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Trước yêu cầu ngày càng cao của giáo dục phổ thông, vai trò định hướng, nêu gương và lãnh đạo của Chi bộ Khoa Sư phạm càng có ý nghĩa then chốt, bảo đảm hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đi đúng hướng, thiết thực và hiệu quả.

Với tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao, tôi tin rằng Chi bộ Khoa Sư phạm – Trường Đại học Hà Tĩnh sẽ tiếp tục phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, đưa hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

Xin trân trọng cảm ơn!

NCS Nguyễn Thị Hồng Tình, giảng viên thuộc Tổ Sinh – Địa, Khoa Sư phạm đã chính thức trúng tuyển và theo học chương trình Tiến sĩ tại Úc. Đây là niềm vui, niềm tự hào không chỉ của cá nhân giảng viên  mà còn của tập thể Tổ Sinh – Địa, Khoa Sư phạm và toàn thể nhà trường.

NCS Nguyễn Thị Hồng Tình được tuyển chọn vào chương trình Tiến sĩ tại một trường RMIT(The Royal Melbourne Institute of Technology) sau quá trình xét tuyển nghiêm ngặt. Hồ sơ của cô được hội đồng tuyển sinh đánh giá cao nhờ nền tảng chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm giảng dạy thực tiễn phong phú và định hướng nghiên cứu rõ ràng, có giá trị ứng dụng trong giáo dục.

T1 2026 Tinh 6 1 0

Trong nhiều năm công tác tại nhà trường, cô Nguyễn Thị Hồng Tình luôn là giáo viên tận tâm, trách nhiệm, có nhiều đóng góp tích cực cho hoạt động chuyên môn của Tổ Sinh – Địa. Cô thường xuyên tham gia đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng dạy học tích hợp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên

Bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy, cô Tình còn tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn như: xây dựng kế hoạch bài dạy theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; tổ chức hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học; tham gia bồi dưỡng chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp. Những nỗ lực đó đã tạo nền tảng vững chắc để cô tiếp tục học tập, nghiên cứu ở bậc học cao hơn.

Trong chương trình Tiến sĩ tại Úc, cô Nguyễn Thị Hồng Tình dự kiến tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến khoa học giáo dục, giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu. Đây là những hướng nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hướng tới phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Khoa Sư phạm, tổ bộ môn và tập thể cán bộ, giáo viên ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng không ngừng của cô Nguyễn Thị Hồng Tình trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu. Việc cô được trúng tuyển và theo học chương trình Tiến sĩ tại Úc là minh chứng rõ nét cho chất lượng đội ngũ nhà giáo của nhà trường, đồng thời khẳng định định hướng đúng đắn trong công tác bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Khoa, bộ môn tin tưởng rằng, sau khi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu, cô Tình sẽ mang về những tri thức, kinh nghiệm quý báu, đóng góp tích cực cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và sự phát triển bền vững của nhà trường trong thời gian tới.

“Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là giữ gìn linh hồn của một dân tộc”

Trong bối cảnh hội nhập và hiện đại hóa, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học không chỉ dừng lại ở việc rèn luyện những phẩm chất cá nhân cần thiết, mà còn phải gắn liền với việc truyền tải và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống. Đặc biệt trong dịp lễ cuối năm, khi không khí Tết Nguyên Đán lan tỏa khắp nơi chính là thời điểm vàng để trẻ em vừa học kỹ năng sống, vừa thấm nhuần tinh thần dân tộc, để từ đó hình thành nhân cách toàn diện.

Cuối năm là thời điểm đặc biệt, khi trường lớp rộn ràng với các hoạt động tổng kết, liên hoan, hội chợ xuân, văn nghệ chào năm mới. Đây là môi trường thuận lợi để học sinh được trải nghiệm, giao lưu và rèn luyện kỹ năng sống một cách tự nhiên. Quan trọng hơn, thông qua những hoạt động như trò chơi dân gian, múa hát truyền thống, gói bánh chưng, viết câu đối đỏ, trẻ còn được tiếp xúc với những nét đẹp văn hóa lâu đời. Trong bối cảnh trẻ em ngày càng gắn bó nhiều với công nghệ và mạng xã hội, thì việc đưa các em trở về với những giá trị văn hóa dân tộc lại càng có ý nghĩa, giúp trẻ kết nối trực tiếp với bạn bè, thầy cô, cộng đồng và với chính cội nguồn của mình.

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong dịp lễ cuối năm là cần thiết bởi nó giúp trẻ hình thành những phẩm chất quan trọng. Các em học cách giao tiếp lễ phép qua lời chúc mừng, cảm ơn, xin lỗi; học cách hợp tác khi cùng nhau chuẩn bị văn nghệ, trang trí lớp học; học cách quản lý thời gian khi vừa phải hoàn thành bài tập vừa tham gia hoạt động; học cách tự phục vụ qua việc chuẩn bị đồ dùng cá nhân, giữ gìn vệ sinh; và học cách thể hiện bản thân qua biểu diễn, thuyết trình, chia sẻ cảm nghĩ. Đặc biệt, thông qua các hoạt động mang đậm bản sắc dân tộc, trẻ còn được nuôi dưỡng lòng tự hào, ý thức bảo tồn văn hóa và tinh thần sẻ chia.

Thực tế cho thấy, nhiều trường tiểu học đã triển khai thành công các hoạt động cuối năm gắn với giáo dục kỹ năng sống và văn hóa dân tộc. Hội chợ xuân với gian hàng trò chơi dân gian, ngày hội ẩm thực với món ăn truyền thống, chương trình văn nghệ chào năm mới với điệu múa, làn điệu dân ca, hay hoạt động thiện nguyện đều trở thành môi trường để học sinh vừa rèn kỹ năng, vừa tiếp nhận và lan tỏa giá trị văn hóa. Những kỹ năng và giá trị ấy không chỉ dừng lại ở khoảnh khắc vui chơi, mà còn mang lại lợi ích lâu dài: giao tiếp lễ phép giúp các em hòa nhập xã hội; tinh thần hợp tác khiến các em trở thành công dân có trách nhiệm; khả năng quản lý thời gian hình thành thói quen học tập khoa học; tính tự phục vụ giúp các em tự lập hơn; tinh thần sẻ chia nuôi dưỡng lòng nhân ái; và ý thức bảo tồn văn hóa giúp các em trở thành thế hệ kế thừa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.

Các chuyên gia giáo dục quốc tế cũng khẳng định vai trò của kỹ năng sống trong giáo dục tiểu học. UNESCO từng nhấn mạnh trong báo cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI” rằng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người” là bốn trụ cột quan trọng của giáo dục hiện đại. Trong đó, kỹ năng sống chính là cầu nối để trẻ em có thể vận dụng kiến thức vào thực tiễn, biết cách chung sống hài hòa và phát triển nhân cách toàn diện. Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Phần Lan đã đưa kỹ năng sống vào chương trình giáo dục tiểu học thông qua các hoạt động lễ hội, trải nghiệm cộng đồng, và kết quả cho thấy học sinh tự tin hơn, gắn kết hơn và có trách nhiệm hơn với xã hội. Với Việt Nam, việc lồng ghép kỹ năng sống vào các hoạt động lễ hội truyền thống càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi nó giúp thế hệ trẻ vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc.

Trong tất cả những hoạt động ấy, vai trò của giáo viên và phụ huynh hết sức quan trọng. Giáo viên là người định hướng, tổ chức và khích lệ học sinh tham gia tích cực, còn phụ huynh là người đồng hành, hỗ trợ và tạo môi trường gia đình thân thiện để trẻ áp dụng những kỹ năng đã học. Khi nhà trường và gia đình phối hợp chặt chẽ, việc giáo dục kỹ năng sống gắn với văn hóa dân tộc sẽ đạt hiệu quả cao hơn, giúp học sinh không chỉ vui chơi mà còn trưởng thành hơn sau mỗi hoạt động.

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong dịp lễ cuối năm là một chủ đề mang tính thời sự, bởi nó đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội; là cần thiết, bởi nó giúp trẻ phát triển toàn diện; và là khả thi, bởi nó có thể được thực hiện thông qua những hoạt động gần gũi, thiết thực. Quan trọng hơn, đây còn là cơ hội để truyền tải, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ. Giáo dục kỹ năng sống trong dịp lễ cuối năm không chỉ là rèn luyện nhân cách, mà còn là hành trình gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc cho thế hệ mai sau.