foto1 foto2 foto3 foto4 foto5


+84 0393.885.127
khoasp@htu.edu.vn

Khoa Sư phạm

Trường Đại học Hà Tĩnh

Trong bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay, trí tuệ nhân tạo (AI) là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho hoạt động dạy học giúp nâng cao chất lượng giảng dạy. Sử dụng AI thiết kế video trong dạy học hình học giúp giáo viên chuẩn bị kế hoạch bài dạy hiệu quả, tăng tính tương tác, phát triển trí tưởng tượng không gian, cải thiện khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh. Bài viết này đề xuất quy trình thiết kế video dạy học các nội dung diện tích lớp 5 bằng các công cụ AI như Chat GPT, Gemini và các phần mềm Powerpoint, Canva có tích hợp AI và đưa ra các hướng thiết kế các video trong dạy học diện tích. Sử dụng AI trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học theo hướng hiện đại và hiệu quả.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một động lực quan trọng, góp phần thúc đẩy những đổi mới trong lĩnh vực giáo dục. Việc ứng dụng AI trong dạy học Toán có khả năng tạo lập môi trường học tập tương tác, trong đó học sinh giữ vai trò trung tâm trong quá trình khám phá và kiến tạo tri thức. Tuy nhiên, trong dạy học môn toán ở bậc tiểu học, việc khai thác tiềm năng của AI còn nhiều hạn chế. Việc sử dụng AI trong dạy học toán ở tiểu học thường hỗ trợ tra cứu thông tin, thiết kế kế hoạch bài dạy, tạo bài tập nhằm cá nhân hóa quá trình học tập cho học sinh, chưa có nhiều công trình nghiên cứu tích hợp AI vào dạy học.

Trong chương trình Toán lớp 5, hình học được xem là một trong nội dung kiến thức có tính đặc thù cao, yêu cầu học sinh phải có khả năng tưởng tượng không gian, phân tích và suy luận logic. Trên thực tế, nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hình dung các đối tượng hình học khi chỉ được tiếp cận thông qua hình vẽ tĩnh trong sách giáo khoa hoặc lời giảng của giáo viên. Vì vậy, thiết kế các video dạy học hình học lớp 5 được xem là một hướng đi tiềm năng giúp học sinh không chỉ hiểu rõ hơn về đặc điểm, tính chất của các hình mà còn có cơ hội phát triển tư duy logic, tư duy không gian và khả năng giải quyết vấn đề.  Video dạy học hình học cho phép biểu diễn các khái niệm hình học thông qua các mô hình trực quan và động, qua đó hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển biểu tượng toán học một cách chính xác và bền vững; Video tạo điều kiện mô phỏng các phép biến đổi hình học một cách linh hoạt và trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu sắc bản chất của các quan hệ hình học; Việc kết hợp hình ảnh, âm thanh, chuyển động trong video phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi tiểu học, góp phần tăng cường sự chú ý có chủ định và duy trì hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh và góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.

Thực tiễn sư phạm cho thấy, giáo viên khi ứng dụng AI vào giảng dạy thường gặp phải một số khó khăn, chẳng hạn như hạn chế về kiến thức công nghệ, quá trình sản xuất video đòi hỏi đầu tư đáng kể về thời gian và công sức, ngoài ra việc thiết kế video học tập đòi hỏi sự kết hợp giữa chuyên môn sư phạm, kỹ năng công nghệ và khả năng sáng tạo nội dung. Giáo viên có thể gặp rào cản về kỹ thuật, không biết cách sử dụng AI để tạo nội dung hấp dẫn hoặc chưa có định hướng và quy trình cụ thể để tích hợp AI vào thiết kế video dạy học phù hợp.

Bài viết này đề xuất một số định hướng thiết kế video trong dạy học diện tích ở lớp 5, đưa ra tiến trình tích hợp AI vào thiết kế các video dạy học diện tích lớp 5. Mục tiêu của nghiên cứu này là cung cấp một hướng đi khả thi để giáo viên có thể khai thác công nghệ AI trong thiết kế các sản phẩm giáo dục sáng tạo, từ đó nâng cao hiệu quả dạy và học. Chúng tôi hy vọng rằng nghiên cứu sẽ góp phần cải thiện hiệu quả dạy học, giúp giáo viên tiếp cận công nghệ một cách dễ dàng hơn và tận dụng tối đa lợi ích mà AI mang lại trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Quy trình sử dụng các phần mềm AI thiết kế các video dạy học hình học

Để tạo được các video hỗ trợ dạy học trực quan nhằm phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng quy trình thiết kế với ba giai đoạn chính dưới đây:

Giai đoạn 1: Xác định mục đích của thiết kế

Trong giai đoạn này, căn cứ vào nội dung dạy học công thức tính diện tích, giáo viên xác định yêu cầu cần đạt cho nội dung dạy học và mục đích thiết kế các video dạy học (các định hướng thiết kế, giáo viên có thể tham khảo mục 2.2 do chúng tôi đề xuất). Tìm hiểu và lựa chọn các phần mềm phù hợp để hỗ trợ các công đoạn như lên kịch bản, vẽ hình và tạo các hiệu ứng động, tạo video và hiệu chỉnh, cuối cùng là lồng tiếng.

Giai đoạn 2: Thực hiện

Dựa trên các yêu cầu cần đạt khi thiết kế video ở bước chuẩn bị, giáo viên tiến hành xây dựng video sao cho đảm bảo tính trực quan và sinh động theo tiến trình cụ thể như sau:

- Bước 1: Sử dụng các công cụ AI xây dựng và lựa chọn các kịch bản cho video như: ChatGPT, Deepseek, Gemini. Giáo viên điều chỉnh kịch bản và lời thoại của video phù hợp mục đích dạy học.

- Bước 2: Sử dụng các công cụ vẽ hình để đảm bảo tính chính xác trong hình vẽ và tạo hiệu ứng, chẳng hạn Powerpoint, Canva, GeoGebra, Procraete, …

- Bước 3: Tạo hiệu ứng và hiệu chỉnh video sử dụng các công cụ như Studio AI, Gemini, GeoGebra, Canva, Capcut, InShot, …

-  Bước 4: Lồng tiếng cho video phù hợp mục đích dạy học sử dụng các công cụ Vbee, Voice AI, Capcut, …

Giai đoạn 3: Hoàn thiện

 Sau khi đã đi qua bước khởi tạo ý tưởng và thực hiện kỹ thuật, giai đoạn hoàn thiện đóng vai trò là khâu cuối cùng để đảm bảo sản phẩm video không chỉ chính xác về mặt công nghệ mà còn tối ưu về mặt sư phạm. Giáo viên chỉnh sửa nội dung, ngôn ngữ trong video phù hợp với tiến trình dạy học dự kiến.

2.2. Các hướng thiết kế video dạy học diện tích bằng các công cụ AI.

a. Thiết kế video nhằm khám phá công thức diện tích các hình trực quan.

Khi dạy học khám phá công thức tính diện tích hình tam giác hay hình thang, để giúp học sinh tự mình xây dựng công thức, giáo viên có thể thực hiện thông qua các hoạt động cắt ghép hình để đưa việc tính diện tích hình tam giác, hình thang về tính diện tích các hình quen thuộc đã học. Việc vẽ hình trên giấy rồi cắt ghép thủ công đòi hỏi sự chuẩn bị kiến thức và đồ dùng dạy học cẩn thận, HS phải thực hiện chính xác các thao tác cắt ghép, tuy nhiên trong quá trình dạy học một số HS vẽ hình hoặc thao tác chậm, thiếu chính xác có thể khiến việc dạy học lãng phí gian.Việc cắt ghép hình có thể được mô hình hóa bằng các video hình học động mô phỏng quá trình cắt ghép một cách trực quan, chính xác từng chi tiết. Các video này được thiết kế dựa trên tiến trình dạy học sau:

 Hoạt động 1: Khởi động. Trong hoạt động này, video giới thiệu vấn đề, yêu cầu học sinh tìm công thức tính diện tích của hình.

Hoạt động 2: Khám phá. Video thực hiện quá trình phân chia và cắt ghép hình, yêu cầu học sinh tìm mối liên hệ giữa diện tích của hình ban đầu và diện tích của hình sau khi cắt ghép.

Hoạt động 3: Giải thích tính đúng đắn của công thức và yêu cầu học sinh phát biểu về công thức tính diện tích. Video đưa ra các câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm công thức tính diện tích, cuối cùng yêu cầu học sinh phát biểu về công thức diện tích hình cần tìm.

b. Thiết kế video xây dựng chiến lược giải bài toán tư duy hình học

Các bài toán tính diện tích của một hình không thể sử dụng trực tiếp công thức mà cần trí tưởng tượng và tư duy hình học của học sinh tiểu học không phải học sinh nào cũng có thể giải được. Thiết kế các video định hướng lời giải cho các bài toán tư duy hình học cho phép mô phỏng trực quan quá trình dựng hình, phân tích và khám phá ý tưởng giải toán thông qua hình ảnh động, học sinh dễ dàng nắm bắt bản chất vấn đề, hiểu được mối liên hệ hình học, dễ dàng xây dựng chiến lược giải từ đó phát triển trí tưởng tượng không gian, tư duy logic và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề. Ý tưởng thiết kế video cho lớp các bài toán này xuất phát từ việc căn cứ vào các mối liên hệ trong hình, chia hình cần tính diện tích thành các phần, cắt ghép các phần đó đưa diện tích hình ban đầu thành tổng hoặc hiệu diện tích các hình có thể sử dụng công thức tính.

Chẳng hạn bài toán: “Cho hình vuông ABCD cạnh bằng 4. Các nửa đường tròn đường kính là các cạnh hình vuông giao nhau như hình vẽ. Tính diện tích hình được tô màu.”

T5 2026 H Anh 23 5 1

Hình 1. Ví dụ tính diện tích cho bài toán tư duy hình học

Đây là một bài toán khó đối với học sinh lớp 5, tuy nhiên, bài toán này dễ dàng tìm ra chiến lược giải dưới một thiết kế video trực quan cắt và ghép hình để định hướng. Từ video, học sinh nhận thấy diện tích phần tô màu gồm 2 phần bằng nhau, khi khai triển hình ban đầu ra, diện tích mỗi phần là hiệu diện tích hình tròn đường kính là cạnh hình vuông cho diện tích hình vuông nội tiếp nó như hình vẽ.

T5 2026 H Anh 23 5 2

Hình 2. Cách tính diện tích hình được tô màu (Hình cắt từ video dạy học)

c. Thiết kế video phát triển trí tưởng tượng không gian nhằm khám phá công thức tính diện tích của hình không gian

Hình học không gian là thách thức đối với khá nhiều học sinh lớp 5 do hạn chế về khả năng tư duy trừu tượng và tưởng tượng vật thể trong không gian ba chiều. Việc chuyển từ một hình hộp chữ nhật khối sang sơ đồ khai triển mặt phẳng đòi hỏi một bước nhảy vọt về nhận thức. Sử dụng video dạy học thiết kế bởi AI giúp cụ thể hóa quá trình này thông qua các thao tác mô phỏng chuyển động, biến những khái niệm tĩnh trên trang giấy thành những trải nghiệm động có tính logic cao. Để thiết kế các video khám phá công thức diện tích của hình không gian hiệu quả, học sinh cần được trải nghiệm tìm hiểu các tính chất của hình đó trong không gian 3 chiều, trải nghiệm trải hình không gian lên mặt phẳng, từ các tính chất hình không gian, học sinh khám phá công thức tính diện tích thông qua hệ thống các câu hỏi dẫn dắt.

3. Kết luận

Bài viết này đã đề xuất một quy trình thiết kế video dạy học nội dung diện tích lớp 5 với sự hỗ trợ của các công cụ AI như ChatGPT, Gemini cùng với các phần mềm Microsoft PowerPoint và Canva có tích hợp AI. Bài viết cũng đưa ra các định hướng thiết kế video dạy học diện tích và minh họa bằng dạy học một số nội dung tính diện tích ở lớp 5. Các định hướng này cùng với quy trình thiết kế giúp giáo viên xây dựng các video trực quan, sinh động và có tính tương tác cao, qua đó hỗ trợ học sinh phát triển tư duy hình học, khả năng tưởng tượng không gian và cải thiện khả năng học tập của học sinh.

Tóm tắt: Năng lực số đã trở thành một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của nhà giáo hiện đại. Bài viết này tổng hợp các khung chuẩn năng lực số quốc tế làm cơ sở nền tảng, thực trạng năng lực số của giáo viên tại Việt Nam thông qua các công trình nghiên cứu gần đây. Từ đó, gợi mở định hướng phát triển năng lực số, đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ để thiết kế học liệu và tổ chức hoạt động dạy học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, giáo dục là một trong những lĩnh vực tiên phong ứng dụng công nghệ. Sự thay đổi về môi trường giáo dục đòi hỏi người giáo viên không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn phải làm chủ công nghệ. Năng lực số (NLS) không chỉ là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục mà còn là công cụ giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, đồng thời hướng dẫn thế hệ trẻ hòa nhập vào xã hội. Việc nghiên cứu, đối chiếu các khung năng lực chuẩn quốc tế và đánh giá thực trạng năng lực số của giáo viên hiện nay là yêu cầu cấp thiết để xây dựng lộ trình bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Theo UNESCO (2023), NLS là khả năng truy cập, quản trị, thấu hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số. Khái niệm này bao trùm các năng lực sử dụng công nghệ, máy tính, cũng như năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, NLS vừa là một năng lực chung cốt lõi của thế kỷ 21, vừa đóng vai trò là năng lực chuyên biệt (năng lực nghề nghiệp) đối với đội ngũ nhà giáo. Cụ thể đối với giáo viên, NLS trong quá trình dạy học thể hiện qua các công việc thực tế như: xây dựng cơ sở dữ liệu số; thiết kế bài giảng số; thực hiện bài giảng số trong hệ thống quản lý học tập (LMS); và kiểm tra, đánh giá bằng các phần mềm chuyên dụng.

Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều khung tiêu chuẩn được xây dựng nhằm chuẩn hóa và định hướng phát triển NLS cho giáo viên:

Khung Năng lực CNTT-TT cho giảng viên của UNESCO (ICT CFT - 2023): Khung này tổ chức 18 năng lực thành 3 mức độ phát triển. Ba mức độ này được đánh giá xuyên suốt qua 6 khía cạnh thực hành nghề nghiệp: hiểu CNTT-TT trong chính sách; chương trình giảng dạy và đánh giá; sư phạm; ứng dụng các kỹ năng số; tổ chức và quản trị; học tập nghề nghiệp giảng viên. Chuẩn ISTE cho giáo viên được chia thành 7 vai trò chính, phản ánh những năng lực cần có trong môi trường giáo dục hiện đại. Mỗi vai trò đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả dạy học thông qua việc sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, có trách nhiệm và mang tính kết nối cao.

Khung NLS cho các Nhà giáo dục của châu Âu (DigCompEdu - 2017): nhằm nắm bắt và mô tả các NLS đặc thù cho các nhà giáo dục bằng việc đề xuất 22 năng lực cơ bản được tổ chức thành 6 lĩnh vực. Khung này cũng đề xuất một mô hình tiến hóa để giúp các nhà giáo dục đánh giá và phát triển NLS của họ, đưa ra 6 giai đoạn khác của một nhà giáo dục giúp cho các nhà giáo dục nhận diện và quyết định về các bước đặc thù phải tiến hành để thúc đẩy năng lực của họ.

T5 2026 Hien 21 5 1

Kế thừa các khung chuẩn quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng năng lực số của đội ngũ giáo viên trong nước. Theo Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 27/03/2026 (chính thức có hiệu lực từ ngày 12/05/2026) về Khung năng lực số dành cho giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục (mầm non, phổ thông, và giáo dục thường xuyên) được quy định với các nội dung trọng tâm như sau: Cấu trúc Khung năng lực số bao gồm 6 miền năng lực, trong đó có 20 năng lực thành phần. Khung năng lực số này đóng vai trò là thước đo chuẩn chuyên môn mới, yêu cầu đội ngũ giáo viên chủ động tự học và thay đổi tư duy để đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia trong giáo dục. Trong đó, thành phần NLS trong thực tiễn dạy học tại Việt Nam: NLS của giáo viên được cấu thành từ năng lực thiết kế bài giảng/giáo án số (như xác định mục tiêu và nội dung bằng video, mô phỏng); năng lực sử dụng phương tiện, thiết bị số một cách hợp lý; và năng lực thực hiện quy trình dạy học số hóa trên các nền tảng LCMS/LMS.

Ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và quản lí giáo dục tại Việt Nam đang ngày càng được quan tâm, đa số các trường phổ thông đã triển khai sử dụng các nền tảng như Microsoft Teams, Google Meet, Zoom và VNPT E-learning để tổ chức lớp học trực tuyến, nhiều GV sử dụng các công cụ như Kahoot, Quizizz, Google Forms, Canva để thiết kế bài giảng và kiểm tra, đánh giá và đạt được một số thành tựu nhất định. Đồng thời, việc tích hợp công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), đang mở ra những không gian sáng tạo mới cho giáo viên. Sự xuất hiện của AI đòi hỏi năng lực số của giáo viên có sự dịch chuyển; giáo viên không chỉ cần biết sử dụng công cụ mà phải có tư duy điều khiển công nghệ và ý thức về đạo đức dữ liệu. Việc ứng dụng các phần mềm AI hỗ trợ đắc lực trong việc xây dựng kịch bản bài học và thiết kế trò chơi dạy học. Đặc biệt, đối với các môn học đòi hỏi tính trực quan, thực tiễn cao như môn Khoa học hay Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học, năng lực số giúp giáo viên thiết kế các học liệu sinh động, hỗ trợ tổ chức các hoạt động học tập bám sát yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình phổ thông mới

Để thu hẹp khoảng cách năng lực số và đáp ứng các tiêu chuẩn trong thời kỳ mới, các công trình nghiên cứu đã đề xuất nhiều hướng đi cụ thể cho đội ngũ giáo viên như: nâng cao nhận thức về vai trò của NLS; đào tạo và bồi dưỡng NLS cho giáo viên; xây dựng và hỗ trợ cộng đồng học tập về NLS; tăng cường cơ sở vật chất và học liệu số; hoàn thiện chính sách và cơ chế hỗ trợ.

Việc nâng cao năng lực số cho giáo viên phổ thông trong quá trình chuyển đổi số cần có các lộ trình đào tạo thiết thực. Lộ trình này cần hướng đến việc chuyển từ việc chỉ biết thao tác soạn giáo án PowerPoint sang việc làm chủ hệ thống quản lý học tập (LMS) và sử dụng linh hoạt các phần mềm giáo dục trực tuyến. Song song với đó, việc triển khai các biện pháp phát triển năng lực số cho đội ngũ giáo viên trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 cần được thực hiện đồng bộ và liên tục tại các cơ sở giáo dục.

Năng lực số của giáo viên là một hệ thống kỹ năng phức hợp. Sự dẫn đường của các khung chuẩn quốc tế cùng những đánh giá thực tiễn từ các nghiên cứu trong nước cho thấy, giáo viên Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ. Sự phát triển NLS của giáo viên không phải là một sự kiện nhất thời mà phải được coi là một quá trình học tập suốt đời. Các cơ sở giáo dục cần tích hợp đào tạo CNTT-TT vào cả 3 giai đoạn: trước khi phục vụ (tại các trường sư phạm), trong khi phục vụ (các cơ hội huấn luyện liên tục), và hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên. Bản thân giáo viên cũng cần chủ động sử dụng các tài nguyên số và mạng lưới cộng đồng trên Internet để tự phát triển nghề nghiệp liên tục. NLS đóng vai trò là kim chỉ nam giúp giáo viên phổ thông không chỉ thích ứng với sự thay đổi của công nghệ mà còn trở thành nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của giáo dục hiện đại. Việc liên tục bồi dưỡng NLS theo các khung chuẩn lý thuyết và thực tiễn sẽ kiến tạo một môi trường giáo dục linh hoạt, giúp học sinh chủ động giải quyết vấn đề và hướng tới xây dựng một xã hội tri thức toàn diện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT quy định Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.
  • Nguyễn Thị Giang (2023), Đề xuất một số biện pháp phát triển 'năng lực số' cho đội ngũ giáo viên trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Giáo dục, 22(19), tr. 25-28.
  • Nguyễn Long Giao (2023). Nâng cao năng lực số cho giáo viên phổ thông trong quá trình chuyển đổi số. Tạp chí Khoa học Quản lí Giáo dục, 10(số đặc biệt tháng 5), 44-49.
  • Bùi Trang Hương (2024), Đề xuất khung năng lực số của giảng viên đại học Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Giáo dục, 24(24), tr. 8-13.
  • Nguyễn Phúc Quân (2023), Phát triển khung năng lực số cho giáo viên trong kỉ nguyên trí tuệ nhân tạo, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia phát triển năng lực giáo viên trong bối cảnh chuyển đổi số, tr. 254-261.
  • Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 phê duyệt “Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và hỗ trợ hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025”, Hà Nội.
  • Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.
  • Hồ Sỹ Toản, Nguyễn Đắc Thanh (2024), Tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực số cho giáo viên tiểu học, Tạp chí Khoa học qunr lý giáo dục, số 03(43), Tr. 49-57.
  • Redecker, C. (2017), Khung năng lực số dành cho nhà giáo dục của Châu Âu (DigCompEdu), Trung tâm Nghiên cứu Chung (JRC).
  • UNESCO (2023), Khung năng lực CNTT của UNESCO dành cho giáo viên (ICT-CFT).

Bốn năm học tập và hoạt động tại Khoa Sư phạm, Trường Đại học Hà Tĩnh là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa và đáng nhớ trong cuộc đời chúng em. Đó không chỉ là hành trình tiếp thu tri thức mà còn là hành trình của sự trưởng thành, của những trải nghiệm đẹp đẽ và của quá trình từng bước chạm đến ước mơ trở thành một người giáo viên. Mỗi ngày được học tập dưới mái trường đại học là một ngày chúng em được học hỏi, được thay đổi và hoàn thiện bản thân hơn. Những năm tháng ấy đã trở thành một phần thanh xuân đẹp nhất mà chúng em sẽ luôn trân trọng và ghi nhớ trong suốt cuộc đời mình.

Ngày đầu tiên bước chân vào giảng đường đại học, chúng em vẫn còn là một cô sinh viên mang nhiều bỡ ngỡ, rụt rè và thiếu tự tin. Chúng em chưa quen với môi trường học tập mới, chưa biết cách tự lập hay chủ động trong mọi việc. Thế nhưng, chính mái trường Đại học Hà Tĩnh đã giúp chúng em thay đổi từng ngày. Nhờ sự tận tình giảng dạy và quan tâm của các thầy cô trong Khoa Sư phạm, chúng em đã dần trưởng thành hơn trong suy nghĩ, biết tự giác học tập, biết chịu trách nhiệm với bản thân và không ngừng cố gắng để hoàn thiện mình. Những bài giảng trên lớp không chỉ mang đến kiến thức chuyên môn mà còn giúp chúng em hiểu hơn về ý nghĩa cao đẹp của nghề giáo – nghề của tình yêu thương, trách nhiệm và sự hi sinh thầm lặng.

T5 2026 SV 16 5 22

Trong suốt bốn năm học, chúng em đã được học tập trong một môi trường đầy sự yêu thương và nhiệt huyết. Các thầy cô không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn luôn động viên, khích lệ sinh viên cố gắng vượt qua khó khăn. Chúng em vẫn nhớ những giờ học đầy tâm huyết, những lần được thầy cô góp ý tận tình sau mỗi bài thuyết trình hay tiết dạy thử. Chính những điều ấy đã giúp chúng em rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, khả năng xử lí tình huống và phong cách sư phạm cần thiết của một giáo viên tiểu học trong tương lai. Chúng em học được cách kiên nhẫn hơn, biết lắng nghe và biết quan tâm đến cảm xúc của người khác nhiều hơn.

T5 2026 SV 16 5 11

Đặc biệt, những đợt kiến tập và thực tập tại các trường tiểu học là khoảng thời gian để lại trong chúng em nhiều cảm xúc nhất. Được đứng trên bục giảng, được trực tiếp hướng dẫn học sinh học tập, được nghe tiếng các em lễ phép chào cô giáo đã khiến chúng em cảm nhận rõ hơn niềm hạnh phúc và ý nghĩa của nghề mình đang theo đuổi. Có những tiết dạy còn nhiều bỡ ngỡ, có những lần chúng em lo lắng vì chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhưng chính từ những khó khăn ấy chúng em đã học được cách cố gắng, biết tự rút kinh nghiệm để tiến bộ hơn mỗi ngày. Chúng em nhận ra rằng nghề giáo không chỉ cần kiến thức mà còn cần cả trái tim yêu thương học trò và lòng tận tụy với nghề.

T5 2026 SV 16 5 33

Không chỉ học tập, chúng em còn được tham gia rất nhiều hoạt động ý nghĩa của khoa và nhà trường. Những chương trình tình nguyện, các hoạt động Đoàn – Hội, hội thi văn nghệ, thể thao hay các chương trình giao lưu sinh viên đã mang đến cho chúng em nhiều trải nghiệm đáng nhớ. Chúng em được gặp gỡ nhiều người bạn mới, được cùng nhau học tập, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Những lần cùng bạn bè thức khuya chuẩn bị chương trình, cùng nhau tham gia các hoạt động thiện nguyện hay những buổi sinh hoạt tập thể đầy tiếng cười đã giúp chúng em hiểu hơn về giá trị của tình bạn, tinh thần đoàn kết và sự sẻ chia trong cuộc sống.

T5 2026 SV 16 5 5

Bốn năm đại học cũng là khoảng thời gian giúp chúng em học được cách sống tự lập và mạnh mẽ hơn. Xa gia đình, chúng em phải tự mình sắp xếp cuộc sống, quản lí thời gian và đối mặt với những áp lực trong học tập cũng như cuộc sống. Có những lúc chúng em cảm thấy mệt mỏi, áp lực và muốn bỏ cuộc, nhưng chính sự động viên của gia đình, thầy cô và bạn bè đã giúp chúng em có thêm động lực để tiếp tục cố gắng. Nhờ đó, chúng em trở nên bản lĩnh hơn, biết kiên trì vượt qua khó khăn và luôn giữ cho mình tinh thần lạc quan trước mọi thử thách.

Điều quý giá nhất mà Trường Đại học Hà Tĩnh mang lại cho chúng em không chỉ là kiến thức hay tấm bằng đại học, mà còn là những bài học về cuộc sống, về tình người và về sự trưởng thành. Chúng em học được cách yêu thương, biết sống trách nhiệm hơn với bản thân và cộng đồng. Chúng em hiểu rằng để trở thành một người giáo viên tốt không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn cần có đạo đức, sự tận tâm và trái tim luôn hướng về học sinh.

Bốn năm thanh xuân dưới mái trường Đại học Hà Tĩnh đã khép lại nhưng những kỷ niệm đẹp, những bài học quý giá và những tình cảm chân thành nơi đây sẽ mãi còn trong tim chúng em. Đó sẽ là hành trang quý báu để chúng em tự tin bước tiếp trên con đường tương lai, tiếp tục theo đuổi ước mơ trở thành một người giáo viên tiểu học tận tâm, nhiệt huyết và luôn hết lòng vì học sinh thân yêu.

Nhằm nắm bắt tình hình thực hiện khóa luận tốt nghiệp và hỗ trợ sinh viên trong quá trình nghiên cứu khoa học, ngày 18/05/2026, Khoa Sư phạm – Trường Đại học Hà Tĩnh đã tổ chức chương trình “Gặp mặt sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp năm 2026”.

Chương trình diễn ra trong không khí nghiêm túc, cởi mở và nhận được sự tham gia đông đủ của giảng viên cùng các sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Tham dự buổi gặp mặt có thầy Lê Văn An – Trưởng khoa Sư phạm, các giảng viên hướng dẫn khóa luận cùng toàn thể sinh viên năm cuối đang thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm tạo cơ hội để sinh viên báo cáo tiến độ thực hiện khóa luận, chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình nghiên cứu cũng như tiếp nhận những ý kiến góp ý chuyên môn từ các thầy cô giảng viên.

Phát biểu tại chương trình, thầy Lê Văn An đánh giá cao tinh thần chủ động, nghiêm túc của sinh viên trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Thầy nhấn mạnh rằng khóa luận không chỉ là yêu cầu học tập quan trọng đối với sinh viên năm cuối mà còn là cơ hội để các em rèn luyện tư duy nghiên cứu, kỹ năng làm việc khoa học và khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Đồng thời, thầy cũng động viên sinh viên cần chủ động hơn trong việc tìm kiếm tài liệu, xây dựng kế hoạch nghiên cứu cụ thể và thường xuyên trao đổi với giảng viên hướng dẫn để đảm bảo tiến độ thực hiện đề tài.

T5 2026 SV 20 5 0

Trong buổi làm việc, nhiều sinh viên đã trình bày nội dung nghiên cứu, phương pháp thực hiện và kết quả bước đầu đạt được. Bên cạnh đó, các em cũng mạnh dạn nêu lên những khó khăn gặp phải trong quá trình khảo sát, xử lý số liệu và hoàn thiện nội dung khóa luận. Các giảng viên đã tận tình góp ý, định hướng thêm về phương pháp nghiên cứu, cách trình bày nội dung khoa học cũng như kỹ năng khai thác tài liệu để giúp sinh viên hoàn thiện đề tài một cách hiệu quả hơn.

Buổi gặp mặt diễn ra với tinh thần trao đổi tích cực, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Khoa Sư phạm đối với hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên. Thông qua chương trình, sinh viên không chỉ được tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện khóa luận mà còn được tiếp thêm động lực, sự tự tin để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình.

T5 2026 SV 20 5 2

Chương trình “Gặp mặt sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp năm 2026” đã khép lại trong không khí phấn khởi và đầy quyết tâm. Đây là hoạt động thiết thực góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Sư phạm, đồng thời khẳng định sự đồng hành của nhà trường và các giảng viên trong hành trình học tập, nghiên cứu và phát triển của sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh.

Hòa chung không khí sôi nổi của Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu khoa học cấp khoa năm 2026 được tổ chức thành công tốt đẹp, “Nội san Khoa học & Giáo dục số 08” chính thức được ra mắt, đánh dấu sự tiếp nối của một không gian học thuật dành cho đoàn viên, sinh viên Khoa Sư phạm. Nội san là nơi giới thiệu các bài viết nghiên cứu, chia sẻ những góc nhìn về giáo dục, hoạt động Đoàn - Hội và tinh thần sáng tạo của tuổi trẻ trong học tập, nghiên cứu khoa học. Với sự đầu tư nghiêm túc về nội dung và hình thức, Nội san số 08 hứa hẹn sẽ mang đến nhiều thông tin bổ ích, góp phần lan tỏa niềm đam mê nghiên cứu và tinh thần học thuật trong sinh viên.

T5 2026 LCD 10 5 1

Nội san lần này là sự kết tinh của tâm huyết, trí tuệ và niềm say mê nghiên cứu của sinh viên Khoa Sư phạm. Mỗi bài viết không đơn thuần là một sản phẩm học tập mà còn thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám tìm tòi và mạnh dạn tiếp cận những vấn đề mới trong giáo dục hiện đại. Từ những nghiên cứu về phát triển tư duy phản biện cho học sinh tiểu học, tích hợp giáo dục địa phương trong dạy học, đến các vấn đề về môi trường, kỹ năng sống, ảnh hưởng của mạng xã hội hay ứng dụng công nghệ trong giáo dục. Tất cả đều cho thấy sự nghiêm túc và trưởng thành trong tư duy học thuật của sinh viên khoa Sư phạm.

T5 2026 LCD 10 5 4

Điều đáng quý là các đề tài không xa rời thực tiễn mà xuất phát từ chính những vấn đề gần gũi trong môi trường giáo dục hiện nay. Qua từng trang viết, người đọc có thể cảm nhận rõ sự quan tâm của sinh viên đối với đổi mới phương pháp dạy học, phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh cũng như trách nhiệm của người giáo viên tương lai trước yêu cầu của thời đại chuyển đổi số.

Có thể thấy, nghiên cứu khoa học đang dần trở thành một phần quan trọng trong hành trình trưởng thành của sinh viên. Đó không còn là hoạt động mang tính phong trào mà đã trở thành môi trường giúp sinh viên rèn luyện tư duy, kỹ năng và bản lĩnh nghề nghiệp. Những bài nghiên cứu được đăng tải trong nội san chính là minh chứng rõ nét cho điều đó.

Bên cạnh các bài viết học thuật, Nội san Khoa học & Giáo dục số 08 còn ghi lại nhiều hoạt động nổi bật của Liên Chi đoàn Khoa Sư phạm trong thời gian qua. Từ các phong trào thi đua học tập, hội thi nghiệp vụ sư phạm, hoạt động tình nguyện đến những chương trình văn nghệ tri ân thầy cô. Tất cả đã góp phần tạo nên một bức tranh tuổi trẻ đầy màu sắc, năng động và giàu nhiệt huyết. Đặc biệt, hình ảnh sinh viên Khoa Sư phạm tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, chủ động tổ chức workshop ứng dụng trí tuệ nhân tạo và không ngừng đổi mới trong học tập đã để lại nhiều dấu ấn đẹp.

T5 2026 LCD 10 5 2

Nội san số 08 không chỉ là nơi lưu giữ những bài viết học thuật mà còn là nơi lưu giữ tinh thần tuổi trẻ, sự nhiệt huyết và những nỗ lực âm thầm của các bạn sinh viên trên hành trình chinh phục tri thức. Mỗi trang nội san là một câu chuyện về sự cố gắng, là kết quả của những ngày miệt mài tìm tài liệu, khảo sát thực tế, chỉnh sửa từng nội dung để mang đến những bài viết chất lượng nhất. Trong bối cảnh giáo dục ngày càng đổi mới, sinh viên sư phạm hôm nay không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn cần khả năng nghiên cứu, tư duy phản biện và tinh thần sáng tạo. Chính vì vậy, việc duy trì và phát triển các hoạt động nghiên cứu khoa học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và hình thành đội ngũ giáo viên tương lai có năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm.

Hy vọng rằng mỗi bài viết trong nội san sẽ mang đến cho người đọc những góc nhìn mới, những nguồn cảm hứng tích cực và thêm động lực để tiếp tục học tập, nghiên cứu và cống hiến./.